1. Hệ thống tư pháp hình sự trong phòng ngừa tội phạm

Bên cạnh các chủ thể có trách nhiệm trong việc phòng ngừa tội phạm như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Chính quyền các cấp,... thì lực lượng công an nhân dân là chủ thể trực tiếp, nòng cốt trong phòng ngừa tội phạm trật tự an toàn xã hội. Lực lượng công an được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ làm nòng cốt trong đấu tranh chống tội phạm để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Tại Điều 67 Hiến pháp năm 2013 quy định “Nhà nước xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại làm nòng cốt thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm”

Tham gia phòng ngừa tội phạm là trách nhiệm của nhà nước, các tổ chức, công dân, nhưng trong các chủ thể phòng ngừa tội phạm thì vai trò của cơ quan công an là quan trọng hàng đầu. Hoạt động của cơ quan công an có ý nghĩa rất lớn trong việc phòng ngừa, không cho tội phạm xảy ra. Cơ quan này không chỉ có chuyên môn, nghiệp vụ trong phòng chống tội phạm mà với quyền hạn và chức năng của mình, họ có “uy nhất định” đối với tội phạm. Việc có mặt của lực lượng này cũng như hoạt động tích cực của họ sẽ hạn chế tội phạm xảy ra trên thực tế, nhất là tội phạm xảy ra trên đường phố. Hoạt động này được thể hiện thông quan các hoạt động cụ thể, thiết thực như: hoạt động tuần tra ở các đường phố khu vực đô thị và nông thôn, tuyến đường quốc lộ; lắp đặt và theo dõi bằng camera tại các ngã tư đường phố đông đúc; thường xuyên tuần tra ở các khu vực chợ đông người, nơi có nhiều tệ nạn xã hội hoặc nơi phức tạp về trị an; tiếp cận tích cực tin báo của nhân dân cũng như xử lý tốt các thông tin do nhân dân cung cấp, xây dựng mạng lưới kết nối chặt chẽ giữa cơ quan cảnh sát với các khu dân cư, các doanh nghiệp trên địa bàn ; hoạt động kiểm soát, quản lý người nhập cư trên địa bàn của cảnh sát, hướng dẫn người dân, doanh nghiệp, tổ chức trong địa bàn mình quản lý về phương thức bảo vệ an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản; tổ chức các chiến dịch truy quét tội phạm trên cả nước cũng như từng địa phương; tham gia vào việc giáo dục đối với trẻ em hư, vi phạm pháp luật tại các trường giáo dưỡng; cảnh báo người dân về phương thức, thủ đoạn phạm tội để người dân chủ động phòng tránh. Nếu các vấn đề trên được triển khai tốt thì sẽ hạn chế đáng kể tội phạm xảy ra trên thực tế. Do đó, có thể nói, trong các chủ thể phòng ngừa tội phạm thì hoạt động phòng ngừa tội phạm của cơ quan công an giữ vai trò quan trọng hàng đầu.

Viện kiểm sát có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, thực hành quyền công tố, đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất trong toàn bộ quá trình điều tra, truy tố, xét xử và giáo dục cải tạo người phạm tội 

Hoạt động phòng ngừa tội phạm của Viện kiểm sát được đánh giá rất cao bởi vì chức năng của Viện kiểm sát thể hiện chủ yếu ở việc kiểm tra giám sát việc thi hành pháp luật, áp dụng pháp luật và nhất là phát hiện các vi phạm pháp luật và tội phạm cùng với các cơ quan hữu quan khác làm sáng tỏ nguyên nhân, điều kiện của tình trạng tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng các tội phạm cụ thể.

Hướng phòng ngừa tội phạm của viện kiểm sát thể hiện chủ yếu ở các mặt sau đây:

Một là, giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan chức năng trong việc điều tra, truy tố, xét xử và giáo dục, cải tạo người phạm tội.

Hai là, thực hành quyền công tố, đảm bảo nguyên tắc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đây cũng là chức năng quan trọng và có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm. Những lý lẽ buộc tội xác đáng trong bản cáo trạng của viện kiểm sát có tác dụng giáo dục rất cao đối với quần chúng nhân dân và đòng thời định hướng cho  công tác xét xử để đạt được bản án thấu tình đạt lý.

Ba là, tổ chức các chương trình phối hợp phòng ngừa tình hình tội phạm giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật và các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội. Để thực hiện hoạt động này, viện kiểm sát cần có đầy đủ thông tin về tình hình tội phạm ở từng cơ sở 

Trong hoạt động xét xử, bằng việc làm sáng tỏ bản chất thực sự của vụ án( nguyên nhân, điều kiện gây án) mức độ sai phạm của kẻ phạm tội, mức độ tham gia của những người khác, mức đô và loại hình phạt áp dụng đối với người phạm tội... Tòa án đồng thời cũng thực hiện hoạt động phòng ngừa tội phạm.

Trong hoạt động xét xử, cùng với việc ra bản án, tòa án ra các quyết định yêu cầu các   cơ quan hữu quan, nơi mà tội phạm xảy ra để họ có những biện pháp ngăn chặn và loại trừ những nguyên nhân và điều kiện phạm tội tại cơ sở. Việc Tòa án thực hiện tốt chức năng xét xử các vụ án hình sự do pháp luật quy định. Nghĩa là thực hiện tốt nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự là “bảo đảm phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi  phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ  chế độ xã  hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm” cũng chính là thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm.

Tòa án cũng là nơi nắm được khá chính xác thực trạng của tình hình tội phạm. Vì vậy, những kết luận và kiến nghị của họ đối với chương trình, kế hoạch phòng ngừa tội phạm của Nhà nước và xã hội cũng hết sức quan trọng và cần thiết.

Ngoài ra, các hoạt động xét xử công khai lưu động của Tòa án cũng là hoạt động phòng ngừa tội phạm. Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử cũng góp phần quan trọng vào hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm của tòa án. Thông qua công tác xét xử, các hội thẩm nhân dân góp phần vào việc tác động với các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội khắc phục những nguyên nhân, điều kiện phạm tội tại các cơ sở, đồng thời tham gia tích cực vào các chương trình phòng ngừa tội phạm nói chung.

Tóm lại, toàn bộ hoạt động xét xử của toà án đều có nội dung phòng ngừa tội phạm và được thể hiện ở chỗ: Thông qua hoạt động xét xử, toà án phát hiện nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục ngăn ngừa tội phạm; thông qua hoạt động xét xử công khai nhằm giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm. Ngoài ra, toà án phối hợp với các cơ quan nhà nước, các tổ chức đoàn thể phát huy tác dụng giáo dục của phiên toà và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành bản án, quyết định của toà án.

>> Xem thêm: Phòng ngừa tội phạm là gì? Mục đích, nội dung, phân loại các biện pháp phòng ngừa tội phạm

 

2. Một số quy định của pháp luật về phòng ngừa tội phạm

2.1. Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016-2025 và định hướng đến năm 2030

Trong Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016-2025 và định hướng đến năm 2030 quy định như sau: 

Phòng, chống tội phạm là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách, thường xuyên, liên tục và lâu dài nhằm thực hiện Hiến pháp, pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành, góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý, chỉ đạo Điều hành thống nhất của Nhà nước. Công tác phòng, chống tội phạm phải gắn với các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trong đó các cơ quan chức năng làm nòng cốt, vai trò, trách nhiệm người đứng đầu các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và nhân dân tích cực tham gia có hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; đề cao vai trò, trách nhiệm và tính chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc các cấp, các tổ chức đoàn thể, quần chúng nhân dân.

 

2.2. Đối với lực lượng công an nhân dân 

Tại Điều 67 Hiến pháp năm 2013 quy định “Nhà nước xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại làm nòng cốt thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm”

 

2.3. Đối với Viện kiểm sát nhân dân 

Viện kiểm sát đã có nhiều nỗ lực triển khai nhiều biện pháp đấu tranh phòng chống có hiệu quả các vi phạm pháp luật tội phạm như việc ban hành Hướng dẫn số 02/HD-VSKTC- VP ngày 09/01/2013 hướng dẫn công tác quản lý, báo cáo chấp hành pháp luật trong hoạt động tư pháp nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết số 37/2012/QH13 ngày 23/01/2013 về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và công tác thi hành án năm 2013 và nhiều văn bản khác.

 

2.4. Đối với Tòa án 

Vai trò phòng ngừa tội phạm của Tòa án đã được nêu trong các chính sách, chủ trương lớn của Đảng như: : Nghị quyết số 08-NQ/TW, Nghị quyết số 49- NQ/TW của Bộ chính trị; Chỉ thị số 48-CT/TW, Kết luận số 05/KL-TW của Ban bí thư, Các nghị quyết, Chỉ thị đã được cụ thể hóa bằng những quy định của pháp luật như Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức TAND 2014, Bộ luật HS năm 2015, Bộ luật TTHS năm 2015, Luật xử lý vi phạm hành chính thể hiện rõ nhiệm vụ, vai trò phòng ngừa tội phạm của Tòa án trong hệ thống chính trị. Nghị quyết số 08-NQ/TW đã khẳng định các cơ quan Tư pháp là Tòa án, Viện kiểm sát,... phải là lực lượng nòng cốt, là chỗ dựa vững chắc của nhân dân trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm thể hiện được sự minh bạch nghiêm minh và không để lọt tội phạm

 

3. Một số giải pháp nâng cao hoạt động phòng ngừa tội phạm của hệ thống tư pháp hình sự

Để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm hình sự trong thời gian tới, theo em cần phải tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, đối với cơ quan công an, thực hiện tốt các mặt công tác phòng ngừa tội phạm với mục tiêu làm giảm tội phạm, kết hợp chặt chẽ công tác phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ, giữa phòng ngừa nghiệp vụ với đấu tranh, trấn áp tội phạm

Hai là, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các buổi họp dân, sinh hoạt đoàn thể… tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn nhân dân nắm vững các quy định của pháp luật về công tác phòng, chống tội phạm để thực hiện và tích cực tham gia; thông tin về phương thức, thủ đoạn hoạt động của tội phạm để nhân dân biết, tự chủ động phòng ngừa.

Ba là, Tòa án cần tăng cường xét xử nhiều phiên tòa lưu động. Qua đó, tuyên truyền, giải thích pháp luật, giáo dục, răn đe tội phạm.

Bốn là, ở tại từng địa phương hoạt động phòng ngừa tội phạm được thực hiện ở từng gia đình, từng khu phố triển khai mô hình tuyên truyền về phòng chống tội phạm qua nhóm Zalo, Facebook, Viber Phát huy vai trò xung kích, tình nguyện của đoàn viên, thanh niên trong tham gia đảm bảo an ninh, trật tự, phòng, chống tội phạm, phối hợp với các địa phương xây dựng các mô hình “Tuyến đường thanh niên tự quản về an ninh trật tự”, “Nhà trọ tự quản”, “Khu dân cư không có tệ nạn xã hội”, câu lạc bộ, đội hình thanh niên phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự khu phố, ấp.