Xin phép hỏi luật sư, Công ty tôi có nhận thư bảo lãnh do Ngân hàng phát hành với nội dung như sau:
- Số tiền: 50.000.000 đồng 
- Thời hạn: Từ ngày 06/11/2015 đến ngày 05/12/2015, bên mua tài sản của Công ty không phải trả tiền theo cam kết nên đến ngày 07/12/2015 công ty tôi có văn bản yêu cầu ngân hàng trả nợ thay. Theo tôi thấy ngày 05/12/2015 là thứ 7 không phải ngày làm việc của Ngân hàng do vậy theo quy định tại thông tư 07 của Ngân hàng nhà nước thì Công ty tôi gửi hồ sơ yêu cầu Ngân hàng thực hiện nghĩa vụ cấp bảo lãnh là đúng luật vì bảo lãnh vẫn còn hiệu lực. Xin luật sư tư vấn thêm được không ạ, vì mình sợ Ngân hàng từ chối với lý do bảo lãnh đã hết hiệu lực trước thời điểm Công ty mình yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
Rất mong nhận được sự hỗ trợ từ phía công ty
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật doanh nghiệp công ty luật Minh Khuê.

Hết thời hạn thư bảo lãnh?

Luật sư tư vấn luật doanh nghiệp gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý

 Thông tư 07/2015/TT-NHNN ngày 25/6/2015 quy định về bảo lãnh ngân hàng 

Nội dung tư vấn 

1. Thư bảo lãnh hết hạn vào cuối tuần thì giải quyết thế nào?

Căn cứ theo quy định Khoản 3 Điều 19 Thông tư số 07/2015/TT-NHNH Quy định về bảo lãnh ngân hàng, cụ thể như sau:

"Điều 19. Thời hạn hiệu lực của cam kết bảo lãnh, thỏa thuận cấp bảo lãnh

1. Thời hạn hiệu lực của cam kết bảo lãnh được xác định từ ngày phát hành cam kết bảo lãnh hoặc sau ngày phát hành cam kết bảo lãnh theo thỏa thuận của các bên liên quan cho đến thời điểm hết hiệu lực của nghĩa vụ bảo lãnh quy định tại Điều 23 của Thông tư này.

2. Thời hạn hiệu lực của thỏa thuận cấp bảo lãnh do các bên thỏa thuận nhưng tối thiểu phải bằng thời hạn có hiệu lực của cam kết bảo lãnh.

3. Trường hợp ngày hết hiệu lực của cam kết bảo lãnh, thỏa thuận cấp bảo lãnh trùng vào ngày nghỉ, ngày lễ, tết thì ngày hết hiệu lực được chuyển sang ngày làm việc tiếp theo.

4. Việc gia hạn hiệu lực của cam kết bảo lãnh do các bên thỏa thuận phù hợp với thỏa thuận cấp bảo lãnh".

Theo nội dung bạn cung cấp, Ngân hàng nghỉ làm Ngày thứ 7 và ngày hết hiệu lực bảo lãnh vào đúng ngày 5/12/2015 là vào ngày nghỉ.  Do đó, ngày 07/12/2015 Công ty bạn có văn bản yêu cầu Ngân hàng trả nợ thay là hoàn toàn phù hợp. Vì khoản 3 Điều 19 Thông tư 07/2015/TT-NHNN thì khi thư bảo lãnh của bạn hết hiệu lực trùng vào ngày thứ 7 và chủ nhật là ngày nghỉ thì ngày hết hiệu lực sẽ được chuyển sang ngày làm việc tiếp theo là thứ hai ngày 07/12/2015. Do đó, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của Công ty bạn thực hiện vào ngày 07/12/2015 là hoàn toàn hợp pháp.

2. Các quy định pháp luật về bảo lãnh ngân hàng

2.1 Điều kiện đối với khách hàng

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài xem xét, quyết định cấp bảo lãnh, bảo lãnh đối ứng, xác nhận bảo lãnh cho khách hàng khi khách hàng có đủ các điều kiện sau đây:

  • Có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.
  • Nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ tài chính hợp pháp
  • Được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cấp bảo lãnh đánh giá có khả năng hoàn trả lại số tiền mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải trả thay khi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

Điều kiện này được quy định cụ thể tại Điều 10 Thông tư số 07/2015/TT-NHNN.

2.2 Thẩm quyền ký thỏa thuận cấp bản lãnh, cam kết bảo lãnh

Về thẩm quyền ký thỏa thuận cấp bảo lãnh, cam kết bảo lãnh được quy định cụ thể tại Điều 16 Thông tư số 07/2015/TT-NHNN, cụ thể như sau:

"Điều 16. Thẩm quyền ký thỏa thuận cấp bảo lãnh, cam kết bảo lãnh

1. Thỏa thuận cấp bảo lãnh, cam kết bảo lãnh phải được ký bởi người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

2. Việc ủy quyền ký thỏa thuận cấp bảo lãnh, cam kết bảo lãnh phải được lập bằng văn bản và phù hợp với quy định của pháp luật".

So với các quy định cũ tại Thông tư số 28 thì Thông tư số 07/2015/TT-NHNN đã bỏ các quy định cam kết bảo lãnh phải hội tụ đủ 3 chữa ký mà chỉ cần cam kết bảo lãnh được ký bởi người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện ủy quyền của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài là đã đầy đủ bảo đảm tính pháp lý của cam kết bảo lãnh ngân hàng.

2.3 Về thảo thuận cấp bảo lãnh 

Điều 14 Thông tư số 07/2015/TT-NHNN quy định về thảo thuận cấp bảo lãnh, cụ thể như sau:

"Điều 14. Thỏa thuận cấp bảo lãnh

1. Để thực hiện bảo lãnh, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và khách hàng ký thỏa thuận cấp bảo lãnh. Trường hợp phát hành bảo lãnh trên cơ sở bảo lãnh đối ứng thì bên bảo lãnh không bắt buộc phải ký thỏa thuận cấp bảo lãnh với bên bảo lãnh đối ứng.

2. Thỏa thuận cấp bảo lãnh phải có các nội dung sau:

a) Các quy định pháp luật áp dụng;

b) Thông tin về các bên trong quan hệ bảo lãnh;

c) Nghĩa vụ được bảo lãnh;

d) Số tiền bảo lãnh, đồng tiền bảo lãnh;

đ) Hình thức phát hành cam kết bảo lãnh;

e) Điều kiện thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh;

g) Quyền và nghĩa vụ của các bên;

h) Phí bảo lãnh;

i) Thỏa thuận về bắt buộc nhận nợ trả thay, lãi suất áp dụng đối với số tiền trả thay và nghĩa vụ, thời hạn hoàn trả nợ khi phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh;

k) Số hiệu, ngày ký, hiệu lực của thỏa thuận;

l) Giải quyết tranh chấp phát sinh.

3. Ngoài các nội dung quy định tại khoản 2 Điều này, các bên có thể thỏa thuận các nội dung khác trong thỏa thuận cấp bảo lãnh không trái với quy định tại Thông tư này và quy định của pháp luật.

4. Việc sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ nội dung thỏa thuận cấp bảo lãnh do các bên liên quan thỏa thuận, quyết định trên cơ sở đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật".

Như vậy Thông tư số 07/2015/TT-NHNN đã sử dụng cụm từ "thỏa thuận cấp bảo lãnh" thay cho cụm từ "hợp đồng bảo lãnh" của pháp luật trước đây.

2.4 Một số các điểm mới của Thông tư số 07/2015/TT-NHNN so với các quy định của pháp luật trước đây

- Thứ nhất: Về giải thích từ ngữ, Thông tư 07/2015/TT-NHNN bổ sung thêm các khái niệm “Bên bảo lãnh đối ứng”, “Bên xác nhận bảo lãnh” để quy định cụ thể Bên bảo lãnh đối ứng, Bên xác nhận bảo lãnh bao gồm cả tổ chức tín dụng ở nước ngoài. Thông tư số 07/2015/TT-NHNN cũng bổ sung khái niệm “Khách hàng” như giải thích ở phần trên là để xác định khách hàng là bên nào trong quan hệ bảo lãnh, từ đó làm cơ sở cho việc tính số dư phát hành bảo lãnh, bảo lãnh đối ứng, xác nhận bảo lãnh và cơ sở cho việc xem xét điều kiện đối với khách hàng được cấp bảo lãnh.

- Thông tư số 07/2015/TT-NHNN cho phép Bên nhận bảo lãnh có quyền chuyển nhượng quyền thụ hưởng cam kết bảo lãnh. Khi chuyển nhượng bảo lãnh không cần phải có sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước.

- Về bảo lãnh đối với khách hàng là người không cư trú bằng ngoại tệ, Thông tư số 07/2015/TT-NHNN quy định bổ sung (tại khoản 4 Điều 11) không cho phép Chi nhánh ngân hàng nước ngoài bảo lãnh bằng ngoại tệ đối với khách hàng tổ chức là người không cư trú ở nước ngoài, trừ các trường hợp:

  • Bảo lãnh cho bên được bảo lãnh tại Việt Nam trên cơ sở bảo lãnh đối ứng của tổ chức tín dụng ở nước ngoài;
  • Xác nhận bảo lãnh cho nghĩa vụ bảo lãnh của tổ chức tín dụng ở nước ngoài đối với bên được bảo lãnh tại Việt Nam.

- Đặc biệt, Thông tư số 07/2015/TT-NHNN bổ sung quy định mới về bảo lãnh trong bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai. Theo đó, Thông tư số 07/2015/TT-NHNN bổ sung Điều 12 như sau:

"Điều 12. Bảo lãnh trong bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai

1. Khi thực hiện bảo lãnh cho chủ đầu tư dự án bất động sản để bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai theo quy định tại Điều 56 Luật kinh doanh bất động sản, ngân hàng thương mại phải tuân thủ các quy định sau đây:

a) Nhà ở hình thành trong tương lai có đủ điều kiện được bán, cho thuê mua theo quy định tại Điều 55 Luật kinh doanh bất động sản;

b) Trong hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở ký kết giữa chủ đầu tư và bên mua, bên thuê mua có quy định nghĩa vụ của chủ đầu tư phải hoàn lại tiền cho bên mua, bên thuê mua khi chủ đầu tư vi phạm nghĩa vụ bàn giao nhà ở theo tiến độ đã cam kết với bên mua, bên thuê mua;

c) Ngân hàng thương mại đánh giá chủ đầu tư có khả năng thực hiện đúng tiến độ dự án và sử dụng số tiền ứng trước, các khoản tiền khác của bên mua, bên thuê mua đã trả cho chủ đầu tư đúng mục đích;

d) Ngân hàng thương mại được Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại Giấy phép thành lập và hoạt động hoặc tại văn bản sửa đổi, bổ sung Giấy phép thành lập và hoạt động;

đ) Thỏa thuận cấp bảo lãnh với chủ đầu tư, cam kết bảo lãnh phải phù hợp với quy định tại khoản 2, 3 Điều 56 Luật kinh doanh bất động sản 2014;

e) Cam kết bảo lãnh trong bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai phải có hiệu lực đến thời điểm ít nhất sau 30 ngày kể từ ngày bàn giao nhà cho bên mua, bên thuê mua nhà ở theo thỏa thuận của chủ đầu tư với bên mua, bên thuê mua nhà ở.

2. Hợp đồng bảo lãnh theo quy định tại Điều 56 Luật kinh doanh bất động sản được lập dưới một trong các hình thức cam kết bảo lãnh quy định tại khoản 12 Điều 3 và Điều 15 Thông tư này.

3. Ngoài các quy định tại khoản 1, 2 Điều này, các nội dung khác về việc bảo lãnh trong bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai phải thực hiện theo quy định tại Thông tư này".

- Thông tư số 07/2015/TT-NHNN bổ sung Điều 12 quy định bảo lãnh cho chủ đầu tư dự án bất động sản để bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai, so với Thông tư 28, là điểm mới phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật kinh doanh bất động sản.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về, luật thuế và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật doanh nghiệp qua EmailTư vấn pháp luật doanh nghiệp qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật Doanh nghiệp.