Buôn lậu thuốc lá điếu nhập lậu là một trong những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, gây thất thoát thuế và ảnh hưởng đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Khung pháp lý Việt Nam đã thiết lập một hệ thống xử phạt toàn diện, phân định rõ ràng giữa trách nhiệm Hành chính và Hình sự, với các ngưỡng phân định nghiêm ngặt. Bài viết này sẽ làm rõ các mức phạt và các tội danh chính áp dụng cho hành vi buôn lậu, vận chuyển và kinh doanh thuốc lá nhập lậu.

1. Thực trạng hoạt động buôn lậu thuốc lá hiện nay

Hoạt động buôn lậu thuốc lá hiện nay vẫn đang diễn biến phức tạp và có nhiều diễn biến mới. Các đối tượng buôn lậu không chỉ lợi dụng địa bàn vùng biên giới mà còn mở rộng hoạt động đến các thành phố lớn và khu vực nội địa. Số lượng thuốc lá nhập lậu ngày càng gia tăng với nhiều thủ đoạn tinh vi, từ việc giả danh các thương nhân hợp pháp, sử dụng các phương tiện vận chuyển chuyên dụng cho đến việc lợi dụng công nghệ thông tin để qua mặt các cơ quan chức năng. 

Trước tình hình này, các lực lượng chức năng đã tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và phối hợp liên ngành để ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi buôn lậu thuốc lá, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và ổn định thị trường trong nước.

2. Khái quát chung về tội buôn lâu thuốc lá

 2.1. Buôn lậu là gì? 

Căn cứ theo quy định tại Điều 188 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), thì buôn lậu là hành vi buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại, vi phạm pháp luật về hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý và đá quý.

2.2. Thuốc lá có những loại nào?

Mặc dù biết thuốc lá gây ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe nhưng số người hút thuốc và nghiện thuốc lá vẫn luôn ở mức cao. Để đáp ứng nhu cầu, các nhà sản xuất đã cung cấp rất nhiều dạng thuốc lá trên thị trường. Dưới đây là những dạng thuốc lá có mặt trên thị trường: 

  • Thuốc lá điếu: Là loại thuốc lá được cuốn thành điếu, có thể mua sẵn hoặc tự cuốn.
  • Thuốc lá xì gà: Là loại thuốc lá được làm từ những lá thuốc cuốn quanh nhau, thường có kích thước lớn hơn và nồng độ nicotine cao hơn. 
  • Thuốc lá lá: Là loại thuốc lá được bán dưới dạng lá rời, thường dùng để tự cuốn hoặc sử dụng trong các loại tẩu. 
  • Thuốc lá điện tử: Là thiết bị điện tử mô phỏng cảm giác hút thuốc lá, sử dụng dung dịch chứa nicotine.

2.3. Buôn lậu thuốc lá được hiểu như thế nào?

Theo quy định tại khoản 1, Điều 2, Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá 2012, thuốc lá được định nghĩa là sản phẩm được làm từ toàn bộ hoặc một phần nguyên liệu thuốc lá, được chế biến thành các dạng như thuốc lá điếu, xì gà, thuốc lá sợi, thuốc lào hoặc các dạng khác. 

Vì vậy, có thể hiểu rằng "buôn lậu thuốc lá" là hành vi nhập khẩu, vận chuyển và kinh doanh thuốc lá một cách trái phép, không qua sự giám sát của cơ quan chức năng và không nộp thuế theo quy định của pháp luật. 

Thuốc lá nhập lậu thường không có đầy đủ các giấy tờ, chứng từ hợp lệ hoặc giấy phép, và không tuân thủ các quy định về an toàn và chất lượng. Điều này có thể gây ra nhiều rủi ro cho sức khỏe của người tiêu dùng.

3. Hành vi buôn lậu thuốc lá sẽ bị xử lý như thế nào?

Hành vi buôn lậu thuốc lá sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Cụ thể, tại Điều 188 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), những cá nhân và tổ chức tham gia vào hoạt động buôn lậu thuốc lá sẽ phải đối mặt với các hình thức xử lý sau:

3.1 Xử phạt hành chính

Đối với những trường hợp vi phạm chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, người vi phạm có thể bị phạt tiền và tịch thu toàn bộ tang vật, phương tiện vi phạm. Mức phạt tiền sẽ được xác định dựa trên giá trị của thuốc lá buôn lậu và mức độ vi phạm. Theo quy định tại Điều 8 Nghị định 98/2020/NĐ-CP, hành vi buôn lậu thuốc lá sẽ bị xử phạt hành chính như sau:

  • Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu dưới 50 bao (1 bao = 20 điếu, đối với thuốc lá xì gà và các dạng thuốc lá thành phẩm khác nhập lậu được quy đổi 20g = 1 bao): Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.
  • Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ 50 bao đến dưới 100 bao: Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
  • Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ 100 bao đến dưới 300 bao: Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
  • Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ 300 bao đến dưới 500 bao: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
  • Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ 500 bao đến dưới 1.000 bao: Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
  • Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.000 bao đến dưới 1.200 bao: Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.
  • Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.200 bao đến dưới 1.500 bao: Phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 90.000.000 đồng.
  • Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao trở lên: Phạt tiền từ 90.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng trong trường hợp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Ngoài hành vi buôn bán, mức phạt trên cũng áp dụng cho các hành vi vận chuyển, tàng trữ, giao nhận hàng cấm.

Lưu ý: Căn cứ theo quy định tại điểm b, khoản 4, Điều 4, Nghị định 98/2020/NĐ-CP, mức phạt trên chỉ áp dụng đối với cá nhân. Trường hợp hành vi vi phạm hành chính do tổ chức thực hiện thì mức phạt tiền gấp đôi mức phạt tiền quy định đối với cá nhân.

Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính đối với thuốc lá nhập lậu được quy định cụ thể tại Điều 18 của Nghị định số 98/2020/NĐ-CP. Điều khoản này điều chỉnh các hành vi buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, và giao nhận thuốc lá điếu nhập lậu với số lượng nhỏ, chưa đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự.  

Cụ thể, hành vi buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng dưới 50 bao sẽ bị xử lý vi phạm hành chính. Theo quy định, 1 bao thuốc lá điếu được quy ước là 20 điếu. Đối với thuốc lá xì gà và các dạng thuốc lá thành phẩm khác nhập lậu, đơn vị quy đổi là 20g tương đương 1 bao.

  • Mức phạt đối với Cá nhân: Đối với hành vi buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, giao nhận thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng dưới 50 bao, mức phạt tiền tối đa có thể lên tới 3.000.000 đồng.  
  • Mức phạt đối với Tổ chức: Nghị định 98/2020/NĐ-CP (và các văn bản sửa đổi) quy định rõ ràng rằng trường hợp hành vi vi phạm hành chính do tổ chức thực hiện, mức phạt tiền sẽ gấp hai lần mức phạt tiền quy định đối với cá nhân. Thẩm quyền phạt tiền đối với tổ chức cũng gấp đôi thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân.  

Việc nâng cao đáng kể mức phạt hành chính trong Nghị định 98/2020/NĐ-CP so với các quy định trước đây (ví dụ: Nghị định 124/2015/NĐ-CP chỉ phạt 500.000 - 1.000.000 đồng cho dưới 10 bao) thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Chính phủ trong việc chống buôn lậu.  

Đáng chú ý, pháp luật đã mở rộng phạm vi đối tượng bị xử phạt tới cả người tiêu dùng. Nghị định 98/2020/NĐ-CP quy định chế tài xử phạt áp dụng không chỉ với đối tượng buôn bán, vận chuyển mà ngay cả người mua, sử dụng (tàng trữ) thuốc lá lậu dù chỉ 1 bao cũng có thể bị phạt tiền. Sự quy định này phản ánh mục tiêu pháp lý không chỉ nhằm trấn áp nguồn cung cấp (buôn lậu quy mô lớn) mà còn triệt tiêu nguồn cầu. Bằng cách thiết lập ngưỡng xử phạt VPHC rất thấp, Nhà nước tạo ra rào cản pháp lý và tâm lý răn đe đối với người tiêu dùng, làm tăng rủi ro cho toàn bộ chuỗi phân phối thuốc lá lậu, ngay cả ở khâu bán lẻ nhỏ nhất. Đây là một chiến lược phòng chống buôn lậu mang tính toàn diện.  

3.2 Truy cứu trách nhiệm hình sự

Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm quy định tại Điều 190 Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi theo khoản 40 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) bị xử phạt như sau:

  • Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm (điểm b, khoản 1).
  • Thuốc lá điếu nhập lậu từ 3.000 bao đến dưới 4.500 bao thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 05 năm đến 10 năm (điểm e, khoản 2)
  • Thuốc lá điếu nhập lậu 4.500 bao trở lên thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm (điểm b, khoản 3)

Theo đó, buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu tùy thuộc số lượng mà có mức hình phạt khác nhau.

Hành vi buôn lậu thuốc lá điếu có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo hai tội danh chính trong Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) :  

  • Tội Buôn lậu (Điều 188): Xử lý hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, xâm phạm chính sách xuất nhập khẩu.  
  • Tội Sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190): Xử lý hành vi buôn bán hoặc tàng trữ thuốc lá nhập lậu đã nằm trong nội địa, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế đối với hàng cấm.  

Kể từ 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018, việc xử lý hình sự đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa được thực hiện triệt để theo BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017, củng cố cơ sở pháp lý cho việc áp dụng Điều 190.

Hành vi buôn lậu hoặc buôn bán thuốc lá nhập lậu sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 188 hoặc Điều 190 BLHS khi đạt các ngưỡng sau:

- Ngưỡng giá trị/Số lượng cơ bản:

  • Hàng hóa buôn lậu/hàng cấm có giá trị từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng.  
  • (Đối với Điều 190) Tàng trữ/Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng từ 50 bao trở lên (theo hướng dẫn chi tiết về hàng cấm).

-Ngưỡng dưới giá trị tối thiểu nhưng vẫn bị xử lý:

  • Trường hợp giá trị hàng hóa dưới 100.000.000 đồng, người thực hiện hành vi vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thỏa mãn một trong các điều kiện sau :  
  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) về hành vi buôn lậu/buôn bán hàng cấm, hoặc các hành vi liên quan khác trong lĩnh vực kinh tế (ví dụ: Điều 189, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 BLHS).
  • Đã bị kết án về một trong các tội danh liên quan mà chưa được xóa án tích.

Tham khảo bài viết liên quan:

Kết luận

Buôn lậu thuốc lá là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế, sức khỏe cộng đồng và trật tự xã hội. Tại Việt Nam, các chế tài xử phạt đối với hành vi này được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật như Nghị định 98/2020/NĐ-CP và Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Tùy thuộc vào tính chất và mức độ vi phạm, người thực hiện hành vi buôn lậu thuốc lá có thể bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền từ vài triệu đến hàng trăm triệu đồng, tịch thu tang vật, hoặc thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự với các hình phạt như cải tạo không giam giữ, phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm, kèm theo phạt tiền bổ sung. Các biện pháp này nhằm răn đe, ngăn chặn và nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong cộng đồng. Để giảm thiểu tình trạng buôn lậu thuốc lá, cần tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức người dân, đồng thời đẩy mạnh phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm.

Mọi thắc mắc quý khách hàng có thể liên hệ trực tiếp Tổng đài tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến số Hotline1900.6162 để gặp luật sư tư vấn trực tiếp giải đáp các thắc mắc. Chúng tôi rất hân hạnh khi nhận được sự hợp tác của quý khách hàng. Xin chân thành cảm ơn!