Thưa luật sư, theo tối được biết quyền sống là một trong những quyền tự nhiên và tối cao của con người. Vậy việc quy định hình phạt tử hình có vi phạm các quy định về quyền sống hay không? Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về hình phạt tử hình trong mối tương quan với các quy định về quyền sống? Rất mong nhận được giải đáp từ luật sư. Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Bích Diệp - Lạng Sơn

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017

1. Tử hình là gì?

Hình phạt tử hình là chế tài hình sự nghiêm khắc nhất của một nhà nước, dẫn đến hậu quả là tước đi quyền sống, vĩnh viễn loại trừ một cá nhân ra khỏi xã hội.

Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự năm 2015: Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.

2. Hình phạt tử hình trong pháp luật và thực tiễn quốc tế

Luật nhân quyền quốc tế bảo vệ quyền sống nhưng không xem đó là một quyền tuyệt đối mà không thể bị tước bỏ trong mọi trường hợp. Trong ICPPR và các văn kiện khác của luật nhân quyền quốc tế không có điều khoản nào bắt buộc các quốc gia thành viên phải xóa bỏ án tử hình hoặc xem việc áp dụng hình phạt tử hình là sự vi phạm quyền sống. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền sống khỏi bị tước bỏ một cách tuỳ tiện, hay nói cách khác là để phòng ngừa việc lạm dụng hình phạt tử hình, luật nhân quyền quốc tế quy định các quốc gia có nghĩa vụ giới hạn áp dụng hình phạt này chỉ với “những tội ác nghiêm trọng nhất”. Ngoài ra, luật nhân quyền quốc tế còn quy định nghĩa vụ của các quốc gia trong việc bảo đảm những thủ tục tố tụng công bằng ở mức độ cao nhất với những vụ việc mà bị cáo bị xét xử với mức án tử hình, trong đó bao gồm những khía cạnh như không áp dụng hồi tố, xét xử công khai, được giả định vô tội, bảo đảm các quyền bào chữa, kháng cáo và xin ân giảm... (đoạn 6 Bình luận chung số 6).

Tuy nhiên, khái niệm “các tội phạm nghiêm trọng nhất” trong thực tế chưa được hiểu một cách thống nhất ở các quốc gia, và việc diễn giải cụm từ này khác nhau đã dẫn đến phạm vi tội phạm có thể bị kết án tử hình khác nhau giữa các nước.

Từ góc độ quan điểm của các cơ quan nhân quyền Liên hợp quốc, HRC cho rằng: "Cụm từ “các tội phạm nghiêm trọng nhất” phải được giải thích với ý nghĩa rằng hình phạt tử hình phải là một biện pháp ngoại lệ”, trong đó không bao gồm các tội phạm về kinh tế, tội tham nhũng, các tội phạm về chính trị, tội cướp, bắt cóc mà không gây hậu quả chết người, bội giáo và các tội liên quan đến ma túy. Uỷ ban Nhân quyền của Liên hợp quốc thì giải thích rằng khái niệm “các tội phạm nghiêm trọng nhất” không bao gồm những hành vi phi bạo lực như các tội phạm tài chính, việc thực hành tôn giáo hoặc thể hiện tín ngưỡng hoặc quan hệ tình dục đồng thuận giữa những người trưởng thành. Còn theo đoạn 1 của văn kiện hướng dẫn “Các bảo đảm về quyền của những người đối mặt với án tử hình” được ban hành kèm theo Nghị quyết 1996/15 ngày 23/7/1996 của ECOSOC thì: “Tại các quốc gia chưa bãi bỏ hình phạt tử hình, án tử hình chỉ được áp dụng đối với các tội phạm nghiêm trọng nhất, và cần hiểu rằng phạm vi của các tội này không vượt ra khỏi các tội phạm mang tính quốc tế gây ra hậu quả chết người hoặc các hậu quả nghiêm trọng khác”.

Từ những diễn giải ở trên, có thể thấy rằng theo quan điểm của các cơ quan nhân quyền Liên hợp quốc, phạm vi tội danh có thể áp dụng hình phạt tử hình là rất hẹp, cơ bản chỉ giới hạn ở tội giết người với tình tiết tăng nặng.

Trong thực tế, các công ước về luật hình sự quốc tế (ví dụ, Quy chế của Toà án Hình sự quốc tế xét xử các tội ác chiến tranh ở Nam Tư cũ, Quy chế Rôm về Toà án Hình sự quốc tế...) cũng không quy định hình phạt tử hình với những tội phạm, kể cả những tội ác nghiêm trọng nhất về nhân quyền như tội diệt chủng, tội ác chiến tranh, tội ác chống nhân loại, tội xâm lược. Thay vào đó, hình phạt cao nhất với các dạng tội phạm này là tù chung thân.

Trong thực tiễn, xu hướng chung trên thế giới trong những thập kỷ gần đây là giảm và tiến tới xoá bỏ hình phạt tử hình.

3. Hình phạt tử hình trong pháp luật và thực tiễn Việt Nam

Như một số quốc gia khác, Việt Nam vẫn duy trì hình phạt tử hình trong BLHS.Theo quy định tại Điều 40 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì:

“1. Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.

2. Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử.

3. Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;

b) Người đủ 75 tuổi trở lên;

c) Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

4. Trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này hoặc trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân”.

Xét về mặt lịch sử, hình phạt tử hình đã được áp dụng từ thời phong kiến ở nước ta cho đến nay, tuy ở mỗi thời kỳ, cách thức và mức độ áp dụng hình phạt này có những điểm khác nhau.

Trong thời kỳ hiện đại, hình phạt này đã từng được nhấn mạnh ở giai đoạn 1989-1997, thể hiện ở sự gia tăng số lượng các tội danh có thể bị kết án tử hình từ 29 trong BLHS năm 1985 lên 44 vào năm 1997, sau 4 lần sửa đổi (vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997), trong đó nhiều nhất là các tội danh về ma túy. Tuy nhiên, kể từ năm 1999, Nhà nước Việt Nam đã liên tục giảm số tội danh có thể bị tuyên hình phạt này, cụ thể là từ 44 xuống còn 29 trong BLHS năm 1999, xuống còn 22 trong lần sửa đổi cũ năm 2009 của BLHS năm 1999 và còn 18 trong BLHS năm 2015. Tỷ lệ các tội danh có quy định hình phạt tử hình trên tổng số tội danh của BLHS cũ 2009 là 22/272 (trên 8%), giảm khoảng 3% so với BLHS cũ năm 1999; khoảng 6,87% so với BLHS năm 1985 và 12,64% so với BLHS năm 1985.

Tổng cộng có bảy tội danh đã được xoá bỏ hình phạt tử hình trong BLHS 2015 bao gồm: Cướp tài sản; Sản xuất, buôn bán hàng cấm là lương thực, thực phẩm; Tàng trữ trái phép chất ma túy; Chiếm đoạt chất ma túy; Phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; Chống mệnh lệnh; Đầu hàng địch. Đồng thời, BLHS cũng đã bỏ tội danh hoạt động phỉ mà trước đây có quy định hình phạt tử hình.

Các tội danh hiện còn áp dụng hình phạt tử hình theo BLHS 2015 bao gồm: Hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142); Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194); Giết người (Điều 123); Tham ô tài sản (Điều 353); Nhận hối lộ (Điều 354); Phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược (Điều 421); Chống loài người (Điều 422); Tội phạm chiến tranh (Điều 423); Phản bội Tổ quốc (Điều 108); Mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251); Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109); Bạo loạn (Điều 112); Gián điệp (Điều 110); Khủng bố (Điều 299); Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113); Phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 114); Sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248); Vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250).

Mặc dù BLHS hiện hành quy định hình phạt tử hình đối với 18 tội danh, nhưng trên thực tế thời gian vừa qua ở Việt Nam các Tòa án chủ yếu áp dụng hình phạt này với tội giết người và các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy.

Bên cạnh việc giảm dần số tội danh có quy định hình phạt tử hình, pháp luật hình sự trong những năm gần cũng có những sửa đổi về thủ tục áp dụng hình phạt này nhằm phù hợp hơn với các tiêu chuẩn của luật nhân quyền quốc tế. Ví dụ, BLHS cũ năm 1999 đã bãi bỏ quy định liên quan đến việc thi hành án tử hình ngay sau khi xét xử trong trường hợp đặc biệt, mà đã được ghi trong các BLHS trước đó, đồng thời bổ sung đối tượng không bị áp dụng và thi hành hình phạt này là phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử. Gần đây, pháp luật hình sự cũng được sửa đổi để cho phép người thân của tử tù được mang xác về chôn, và thay đổi cách thức hành quyết từ xử bắn sang tiêm thuốc độc (được coi là nhân văn hơn với cả tử tù và những người thi hành án).

BLHS năm 2015 cũng đã bổ sung các quy định mớibao gồm: không áp dụng hình phạt tử hình đối với người từ đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử và không thi hành án tử hình đối với họ (các khoản 2, 3 Điều 40); không thi hành án tử hình đối với người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ¾ tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn (điểm c khoản 3 Điều 40). Ngoài ra, BLHS năm 2015 đã bổ sung trường hợp giảm mức hình phạt đã tuyên: “Đối với người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật thì thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30 năm” (khoản 6 Điều 63).

Tuy nhiên, cần thấy rằng phạm vi và mức độ áp dụng hình phạt tử hình trong BLHS của Việt Nam hiện vẫn còn rộng so với nhiều nước và so với quan điểm của Liên hợp quốc. Theo thống kê của tổ chức Ân xá quốc tế, Việt Nam thuộc vào 55 nước trên thế giới hiện vẫn còn tuyên hình phạt này, và thuộc vào nước vẫn còn thi hành nhiều án tử hình.

4. Một số đề xuất hoàn thiện quy định về hình phạt tử hình tương thích với luật quốc tế

4.1. Xóa bỏ hình phạt tử hình với một số tội phạm

Để phù hợp với quan điểm của Liên hợp quốc, xu hướng chung trên thế giới và thực hiện Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó chủ trương từng bước hạn chế, giảm tối đa quy định hình phạt tử hình đối với các tội phạm, vẫn cần tiếp tục nghiên cứu giảm và tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình.

Phù hợp chung với xu hướng chung trên thế giới, nên mạnh dạn xóa bỏ hình phạt tử hình với những nhóm tội xâm phạm quyền sở hữu, tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tội khủng bố và hầu hết các tội trong nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia theo quy định của BLHS hiện hành, bởi theo quan điểm của Liên hợp quốc, đây là những tội phạm không nên bị kết án tử hình, và trong thực tế ở nước ta thời gian qua rất ít khi áp dụng. Cũng nên xóa bỏ hình phạt tử hình với nhóm tội xâm hại an ninh và hòa bình thế giới, bởi trong thực tế nước ta hầu như không áp dụng, nhưng quan trọng hơn là ngay trong các điều ước của luật hình sự quốc tế (Quy chế Rôm về Tòa án Hình sự quốc tế năm 1998) cũng không quy định hình phạt tử hình với những tội danh này.

Hình phạt tử hình cũng nên được xóa bỏ đối với các tội phạm ma túy, mặc dù đây là các tội phạm có tính nguy hiểm cao cho xã hội. Đó là bởi việc áp dụng hình phạt tử hình với tội phạm ma túy bị phản đối rất gay gắt bởi cộng đồng quốc tế, do nhiều người phạm tội là người nghèo và do tác dụng ngăn chặn của hình phạt tử hình với dạng tội phạm này là vấn đề rất gây tranh cãi.

Đối với những tội vẫn quy định hình phạt tử hình, BLHS chỉ nên quy định áp dụng trong những trường hợp hành vi phạm tội mang tính bạo lực, dã man, tàn bạo, gây bất bình trong nhân dân, hoặc phạm tội có tổ chức với quy mô lớn, có sự câu kết chặt chẽ giữa các băng, nhóm tội phạm trong việc thực hiện tội phạm, gây thiệt hại cho nhiều người, đối tượng thực hiện là những kẻ chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, người phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.

Xét tổng quát, trong trường hợp vẫn còn duy trì, chỉ nên giữ lại hình phạt tử hình với tội giết người và tội phản quốc.

4.2. Tăng cường nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm quốc tế 

Ngoài các khía cạnh trên, liên quan đến hình phạt tử hình, Nhà nước nên:

- Nghiên cứu việc tái công khai các số liệu thống kê về việc áp dụng hình phạt tử hình (như đã từng làm trước đây) để phù hợp với một loạt Nghị quyết trong các năm 2007, 2008,2010 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về việc không áp dụng án tử hình, trong đó kêu gọi các quốc gia “cung cấp cho Tổng Thư ký Liên Hợp quốc thông tin về việc áp dụng hình phạt tử hình và việc thực hiện các biện pháp bảo vệ những người đối mặt với án tử hình”, và “công bố thông tin về việc áp dụng án tử hình thông tin nào có thể đóng góp vào các cuộc tranh luận quốc gia về sự minh bạch”. Việc công khai thông tin về tình hình áp dụng hình phạt tử hình sẽ góp phần nâng cao uy tín về nhân quyền của Việt Nam với cộng đồng quốc tế và tạo điều kiện cho việc nghiên cứu, thảo luận chuyên sâu về vấn đề này ở nước ta.

- Tiếp tục tăng cường khuôn khổ pháp lý và các biện pháp bảo vệ, thúc đẩy các quyền của những người bị kết án tử hình, bao gồm những tử tù chờ được hành quyết phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan.

- Nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia khác trong việc quy định các hình phạt thay thế hình phạt tử hình và những quy định đặc biệt có tính chất nhân đạo về việc áp dụng hình phạt này, ví dụ như quy định về án tử hình cho hoãn thi hành trong 2 năm để có thể được xem xét giảm xuống tù chung thân (Trung Quốc), hay việc kết án nhưng không thi hành trên thực tế.

- Nghiên cứu khả năng tham gia Nghị định thư Tùy chọn thứ hai của ICCPR về xóa bỏ hình phạt tử hình.

- Khuyến khích các nghiên cứu và tranh luận trong xã hội về các vấn đề lý luận, thực tiễn và pháp lý quốc tế và quốc gia về hình phạt tử hình. Đề nghị các Liên hợp quốc, các tổ chức phi chính phủ quốc tế và các quốc gia đã bãi bỏ hình phạt này tư vấn và trợ giúp trong việc sửa đổi pháp luật, chính sách về hình phạt tử hình.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập