1. Thế nào là hòa giải gắn với Tòa án?

Có nhiều định nghĩa về hòa giải được áp dụng bởi các quốc gia khác nhau, mặc dù các định nghĩa này cũng có những điểm tương đồng. Hòa giải có thể được định nghĩa một cách chung nhất là một quy trình có trật tự, theo đó, hai hoặc nhiều bên tham gia tranh chấp tự mình, trên cơ sở tự nguyện, đạt được thỏa thuận thống nhất giải quyết tranh chấp của họ với sự hỗ trợ của Hòa giải viên. Hòa giải khác biệt với phương thức trọng tài và tố tụng Tòa án. Không giống như trọng tài hoặc tố tụng Tòa án, Hòa giải viên không có quyền lực pháp lý để buộc các bên tranh chấp chấp nhận quyết định của mình mà chỉ dựa vào sự thuyết phục để các bên đạt được sự đồng thuận.

Hòa giải tại Tòa án là hoạt động hòa giải do Hòa giải viên tiến hành trước khi Tòa án thụ lý vụ việc dân sự nhằm hỗ trợ các bên thỏa thuận giải quyết vụ việc dân sự theo quy định (khoản 2 Điều 2 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án 2020).

Hòa giải cũng có thể được phân biệt với các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế khác, chẳng hạn như trung gian, trong đó một bên thứ ba trung lập có vai trò tích cực hơn Hòa giải viên trong việc cung cấp các giải pháp cho các bên để giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, như được phân tích dưới đây, trung gian và hòa giải thường có thể giống nhau trên thực tế, tùy thuộc vào từng bối cảnh. Theo thông lệ chung của các quốc gia, quá trình hòa giải có thể được khởi xướng bởi các bên, theo đề nghị hoặc quyết định của Tòa án hoặc theo quy định của pháp luật.

Hòa giải gắn với Tòa án là một loại hòa giải, và thường chỉ bất kỳ quá trình hòa giải nào được thực hiện dưới sự hỗ trợ của Tòa án, thường là đối với các tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án. Đây là một thủ tục trước khi xét xử, được thực hiện đối với các tranh chấp có thể hòa giải được khởi kiện tại Tòa án, với sự hỗ trợ của Hòa giải viên. Trong phạm vi hòa giải gắn với Tòa án, trên thế giới không có một định nghĩa chung giải thích thế nào là “gắn với Tòa án” về mức độ hoặc loại Tòa án tham gia.

2. Đặc điểm của hòa giải gắn với Tòa án

- Phạm vi và đối tượng áp dụng:

Việc hòa giải gắn với Tòa án được thực hiện đối với các tranh chấp dân sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động (sau đây gọi tắt là tranh chấp dân sự) được tiến hành trước khi Tòa án thụ lý, giải quyết trừ những tranh chấp, khiếu kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được. 

- Chủ thể tiến hành hòa giải:

Hòa giải viên được lựa chọn từ những Thẩm phán đã về hưu; những người đã từng là Kiểm sát viên, Điều tra viên, chuyên viên pháp lý trong các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, Thi hành án, các cơ quan Đảng và nhà nước khác thuộc khối nội chính; luật sư, luật gia, Hội thẩm nhân dân hoặc những người khác có kiến thức pháp luật, có sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực, kinh nghiệm trong hòa giải, đối thoại, có uy tín trong cộng đồng. 

Trung tâm hòa giải, đối thoại được thành lập tại một các Tòa án nhân dân cấp huyện và tỉnh. Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án làm giám đốc Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án. 

Tùy theo nhiệm vụ và quyền hạn mà các cấp TAND sẽ có quyền và nghĩa vụ khác nhau trong việc phân chia quản lý, tránh xảy ra hiện tượng chồng chéo. Hiện nay, TAND cấp quận, huyện, thành phố đang là cấp trực tiếp tiến hành hoạt động hòa giải này, đây là cơ quan nắm rõ nhất việc ứng dụng hoạt động hòa giải vào giải quyết tranh chấp vào thực tế hiệu quả, vướng mắc, bất cập còn tồn tại, .... TAND cấp tối cao với tầm nhìn vĩ mô, sẽ chịu trách nhiệm quản lý, cập nhật và điều chỉnh các vấn đề chưa phù hợp của TAND cấp dưới.

TAND cấp tỉnh đóng vai trò là cấp trung gian, chỉ đạo TAND cấp dưới thực hiện các quy định sao cho chính xác và đem lại hiệu quả tốt nhất, đồng thời cũng là cơ quan đóng vai trò báo cáo và tham mưu lên cơ quan cấp trên về kết quả thực hiện trên thực tế để có những điều chỉnh phù hợp. Việc phân công một cách rõ ràng nhiệm vụ của TAND các cấp theo đúng chuyên môn giúp xử lý thông tin một cách nhanh chóng và chính xác. 

3. Lợi ích khi thực hiện hòa giải, đối thoại tại Tòa án

Việc thực thi phương thức hòa giải, đối thoại (HGĐT) tại Tòa án đem đến nhiều lợi ích cho xã hội, cụ thể như sau:

Phương thức HGĐT giúp tiết kiệm công sức, thời gian cho các bên tham gia HGĐT và cho Tòa án:

Khi lựa chọn thủ tục HG ĐT tại tòa án, các bên có quyền lựa chọn HGV trong danh sách Hòa giải viên của Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính; trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện thì có thể lựa chọn Hòa giải viên của Tòa án nhân dân cấp huyện khác trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Quyền lựa chọn Hòa giải viên đã tăng thêm sự chủ động và sự tin tưởng vào Hòa giải viên của các bên tham gia hòa giải, đối thoại, làm tăng cơ hội hòa giải thành, đối thoại thành.

Về phía Tòa án, nếu một vụ việc được các bên lựa chọn giải quyết theo trình tự, thủ tục HGĐT thì sẽ giảm bớt được chi phí cho các hoạt động tố tụng, giảm bớt áp lực về số lượng các vụ việc phải giải quyết hàng năm ngày càng có xu hướng tăng hiện nay.

Phương thức HGĐT giúp tiết kiệm chi phí cho các bên:

Nhà nước khuyến khích hòa giải, đối thoại nên rất tiết kiệm chi phí cho các bên. Chi phí hòa giải, đối thoại tại Tòa án do ngân sách nhà nước bảo đảm, trừ các trường hợp sau đây:

- Chi phí hòa giải đối với tranh chấp về kinh doanh, thương mại có giá ngạch. Mức thu cho việc chi thù lao của Hòa giải viên và chi phí hành chính phục vụ việc hòa giải tranh chấp về kinh doanh, thương mại có giá ngạch tại Tòa án là 2.000.000 đồng/1 vụ việc.

- Các chi phí khác, bao gồm: chi phí khi các bên thống nhất lựa chọn địa điểm hòa giải, đối thoại ngoài trụ sở Tòa án; Chi phí khi Hòa giải viên xem xét hiện trạng tài sản liên quan đến vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính mà tài sản đó nằm ngoài phạm vi địa giới hành chính của tỉnh nơi Tòa án có thẩm quyền giải quyết có trụ sở; Chi phí phiên dịch tiếng nước ngoài. Các chi phí này phát sinh trong một số ít trường hợp theo thực tế và lựa chọn của các bên.

Phương thức HGĐT giúp bảo mật thông tin cho các bên:

HGĐT không cần phải tiến hành công khai, HGV phải giữ bí mật thông tin mà các bên đã cung cấp cho mình trong quá trình HGĐT. Điều này là sự khác biệt cơ bản so với thủ tục tố tụng tại Tòa án. Bởi tính hợp pháp của bản án, quyết định cần được đảm bảo thông qua tính công khai, tính công khai là trường hợp chung, không công khai là ngoại lệ. Xét xử công khai là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng. Trong trường hợp cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Tòa án có thể xét xử kín.

Xem thêm: Trình tự, thủ tục hòa giải, đối thoại được diễn ra như thế nào ?

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Hòa giải gắn với Tòa án là gì? Có đặc điểm như thế nào? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.


Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!