- 1. Hòa giải là gì? Ý nghĩa của hòa giải trong vụ án dân sự
- 2. Đặc trưng, nguyên tắc của hòa giải vụ án dân sự
- 2.1 Đặc trưng
- 2.2. Nguyên tắc hòa giải
- 3. Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải?
- 4. So sánh hậu quả pháp lý trong hai trường hợp sau:
- 5. So sánh hậu quả pháp lý trong hai trường hợp hòa giải trong 2 giai đoạn cụ thể dưới đây
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162
1. Hòa giải là gì? Ý nghĩa của hòa giải trong vụ án dân sự
Khái niệm: Hòa giải là quyền tố tụng của các đương sự và cũng chỉ các đương sự mới có quyền hòa giải vì đương sự là chủ thể của quan hệ pháp luật nên có quyền tự quyết định những vấn đề của vụ án tranh chấp
Ý nghĩa của hòa giải:
+ Tạo cơ hội để các bên ngồi lại trao đổi nói chuyện trao đổi ý kiến tìm ra cách giải quyết tốt nhất để giải quyết tranh chấp.
+ Tiết kiệm nguồn lực thời gian tiền bạc cho cả Tòa án và các đương sự.
+ Khôi phục tình cảm duy trì được mối quan hệ giữa các bên.
+ Giúp vụ án được giải quyết một cách nhanh chóng
Phân biệt hòa giải với tự hòa giải trong tố tụng dân sự:
Giống nhau: đều là sự thỏa thuận của các đương sự
Khác nhau: Hòa giải chỉ được tiến hành ở một số vụ án dân sự trong giai đoạn chuẩn bị tiến hành xét xử, tuân theo 1 trình tự . có sự tham gia của Thẩm phán. Nếu hòa giải thành thì Tòa án sẽ thành lập biên bản hòa giải thành sau 7 ngày nếu các đương sự không có thay đổi gì thì biên bản có hiệu lực pháp luật
Tự hòa giải: Tiến hành bất kỳ giai đoạn nào của quá trình tố tụng, không cần sự tham gia của Tòa án . nếu 2 bên thỏa thuận được với nhau kết quả của thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật thì có thể yêu cầu tòa án công nhận sự thỏa thuận.
Phạm vi hòa giải: Hòa giải chỉ đặt ra đối với các vụ việc dân sự có tranh chấp, do đó hòa giải chỉ được tiến hành đối với các vụ án dân sự. Đối với việc dân sự cho có yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn tòa tiến hành hòa giải để các đương sự trở về đoàn tụ với nhau Hòa giải được áp dụng với hầu hết vụ án dân sự trừ những vụ án dân sự không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được.
2. Đặc trưng, nguyên tắc của hòa giải vụ án dân sự
2.1 Đặc trưng
Bản chất của hòa giải là: Hòa giải là hành vi thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa. Hòa giải cũng là giải quyết các tranh chấp, bất đồng giữa hai hay nhiều bên tranh chấp bằng việc các bên dàn xếp, thương lượng với nhau có sự tham gia của bên thứ ba (không phải là bên tranh chấp).
Hòa giải trong tranh chấp thương mại: Phương thức hòa giải khác thương lượng ở chỗ có sự tham gia của nhân tố trung gian. Người trung gian này không có vai trò quyết định trong việc giải quyết tranh chấp mà chỉ là người hỗ trợ, giúp đỡ cho các bên trong việc tìm ra giải pháp tốt nhất để giải quyết tranh chấp, còn việc giải quyết tranh chấp vẫn là do các bên quyết định.
+ Hoà giải viên đương nhiên phải là người không có quyền lợi liên quan đến vụ tranh chấp và phải hoàn toàn trung lập. Tính trung lập của hoà giải viên tạo nên sự tin cậy của các bên tranh chấp khi yêu cầu hoà giải bất đồng của mình.
+ Hòa giải cũng không chịu sự chi phối của bất kỳ một thủ tục tố tụng pháp lý nào mà do các bên tranh chấp tự quyết định. Kết quả của quá trình hòa giải thành cũng chỉ là sự thỏa thuận của các bên có tranh chấp và việc thực hiện thỏa thuận này cũng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên mà không có bất kỳ một quyết định pháp lý nào.
Hòa giải cấp cơ sở: Hoà giải ở cơ sở là quá trình Hòa giải viên vận dụng pháp luật, đạo đức xã hội để giải thích, hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp tự nguyện giải quyết với nhau những vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý, truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, phòng ngừa và hạn chế những hành vi vi phạm pháp luật ở cơ sở. Hoà giải là một hình thức giải quyết những tranh chấp giữa các bên theo quy định của pháp luật
+ Trong hoạt động hòa giải, các bên tranh chấp cần đến một bên thứ ba làm trung gian hoà giải, giúp các bên đạt được thỏa thuận, chấm dứt tranh chấp, bất đồng;
+ Hòa giải trước hết là sự thoả thuận, thể hiện ý chí và quyền định đoạt của chính các bên tranh chấp;
+ Nội dung thỏa thuận của các bên tranh chấp phải phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân ta.
Hòa giải vụ án dân sự trong tố tụng dân sự: là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết nội dung vụ án dân sự ở bất kỳ thời điểm nào trong quá trình tố tụng... tuy nhiên hòa giải là thủ tục tố tụng bắt buộc trưởng khi mở phiên tòa sơ thẩm. Nếu tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành hòa giải thi được coi là có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Chủ thể tiến hành hòa giải là tòa ẩn mà chủ yếu là thẩm phán. Hòa giải được coi là trách nhiệm của tòa án trình tự thủ tục hòa giải vụ án dân sự khác với hòa giải ngoài tố tụng là phải tuân thủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong hòa giải ngoài tố tụng các bên hoàn toàn chủ động linh hoạt trong việc quyết định thời gian địa điểm hòa giải trình tự hòa giải trong tố tụng được pháp luật quy định rất chặt chẽ. Thỏa thuận mà các đương sự đạt được thông qua hòa giải Vụ án dân sự có hiệu lực thi hành như một bản ấn sau khi tòa án đã ra quyết định công nhận của các đương sự.
2.2. Nguyên tắc hòa giải
Căn cứ quy định tại điều 205 bộ luật tố tụng dân sự. Cơ sở của hòa giải chính là quyền tự định đoạt của các đương sự, tòa án chỉ đóng vai trò trung gian, là cầu nối để giúp đỡ các đương đạt được thỏa thuận về giải quyết nội dung vụ án tức là thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên trong quan hệ pháp luật đang có tranh chấp Khi tiến hành hòa giải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
+ Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của đương sự không được dùng bất kỳ hành động nào đe dọa các bên phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình.
+ Nội dung thỏa thuận giữa các bên không được trái pháp luật trái đạo đức xã hội
3. Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải?
Theo quy định tại Điều 205 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn.
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ ăn là người tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự. Trước khi tiến hành phiên họp, Thẩm phán phải thông báo cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp. Lưu ý là Đối với vụ án hôn nhân và gia đình liên quan đến người chưa thành niên, trước khi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự thì Thẩm phán, Thẩm tra viên được Chánh ánTòa án phân công phải thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp. Khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán có thể tham khảo ý kiến của cơ quan quản nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh tranh chấp và nguyện vọng của vợ, chồng, con có liên quan đến vụ án.
Đối với vụ án tranh chấp về nuôi con khi ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Thẩm phán phải lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên, trường hợp cần thiết có thể mời đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em chứng kiến, tham gia ý kiến. Việc lấy ý kiến của con chưa thành niên và các thủ tục tố tụng khác đối với người chưa thành niên phải bảo đảm thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người chưa thành niên, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, giữ bí mật cá nhân của người chưa thành niên.
Thành phần phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải gồm: Thẩm phán chủ trì phiên họp; Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp; Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự; Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi có yêu cầu của người lao động, trừu vụ án lao động đã có tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động, người lao động. Trường hợp đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động không tham gia hòa giải thì phải có ý kiến bằng văn bản; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có); Người phiên dịch (nếu có)
Pháp luật Việt Nam rất coi trọng việc hòa giải để giải quyết các tranh chấp mâu thuẫn, bảo đảm giữ được mối quan hệ hài hòa giữa các bên tranh chấp. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vẫn giữ thủ tục hòa giải trong tố tụng dân sự nhưng đã phát triển thành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (được quy định trong các điều 208, 209, 210, 211). Thủ tục phiên họp có xu hướng giống với phiên tòa sơ bộ trong pháp luật Liên bang Nga và tố tụng sơ đẳng hay “tố tụng chuẩn bị” trong pháp luật Nhật Bản[3]. Về trình tự, nội dung của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được quy định tại Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Quy định này cũng còn một số hạn chế:
Một là, về trình tự phiên họp gần như tách riêng thành hai phần là kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không có sự kết hợp, gắn kết nên nhiều thủ tục đã thực hiện trong phần trước đã lặp lại trong phân sau như: Đương sự trình bày yêu cầu và phạm vi khởi kiện, việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập, những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết việc lặp lại này gây sự nhàm chán, kéo dài thời gian không cần thiết của phiên họp
Hai là, tại điểm d khoản 2 Điều này quy định cho đương sự có quyền để xuất thẩm phán hỏi đương sự khác về “những vấn đề khác mà đương sự thấy cần thiết”. Quy định này không rõ ràng, “những vấn đề khác mà đương sự thấy cần thiết” là những vấn đề gì? Nếu mở rộng những vấn đề mà đương sự có quyền yêu cầu thẩm phán hỏi đối với đương sự khác thì dẫn đến thủ tục của phiên họp đã dài lại càng tốn nhiều thời gian hơn.
Ba là, khoản 3 Điều 210 nêu trên quy định, thẩm phán sau khi nghe các đương sự trình bày xong sẽ “xem xét các ý kiến, giải quyết yêu cầu của đương sự quy định tại khoản 2 Điều này” Vậy, những yêu cầu nào của đương sự sẽ được xem xét, giải quyết? Yêu cầu khởi kiện (quy định tại điểm a khoản 2) có được giải quyết không? Quy định này cho thấy sự thiếu chặt chẽ và không rành mạch. Hơn nữa, một nội dung quan trọng là thẩm phán phải kết luận về giá trị của chứng cứ tại phiên họp giống như quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga thì Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 của Việt Nam đã không quy định. Do vậy, Tòa án nhân dân tối cao nên có hướng dẫn cụ thể các nội dung trong Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để các thủ tục tránh lặp lại, quy định đương sự có quyền đề xuất thẩm phán hỏi những vấn đề về chứng cứ của vụ án mà đương sự thấy cần thiết để tránh kéo dài thời gian của phiên họp.
4. So sánh hậu quả pháp lý trong hai trường hợp sau:
So sánh hậu quả pháp lý trong hai trường hợp (1) các đương sự tự thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án trước phiên tòa sơ thẩm và (2) các đương sự thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án khi Tòa án tiến hành hòa giải trước phiên tòa sơ thẩm.
Hậu quả pháp lý trong hai trường hợp:
Trường hợp thứ nhất các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án trước khi mở phiên tòa sơ thẩm (trong giai đoạn tòa án đang xem xét hồ sơ. Xét về bản chất thì đây là sự thỏa thuận của các bên thống nhất với nhau, việc này mối quan hệ giữa đương sự với đương sự hoàn toàn là mối quan hệ trong pháp luật dân sự khi các bên đã thống nhất được với nhau không cần đưa vụ án ra xét xử nữa thì nguyên đơn cung có thể rút đơn khởi kiện. Bản chất, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là tôn trọng ý kiến, và quyền tự do ý chí ,tự thỏa thuận của các bên trong quan hệ dân sự. Trong trường hợp này nếu các bên thống nhất với nhau rồi ko cần thiết giải quyết bằng con đường tố tụng và có thể rút đơn khởi kiện thẩm phán được phân công tiến hành xem xét vụ án thì có thể ra quyết định đình chỉ vụ án.
Trường hợp thứ 2: các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án khi tòa án tiến hành hòa giải trước phiên tòa sơ thẩm, thẩm phán tiền hành hòa giải vụ án ra lập biên bản hòa giải thành. Sau 7 ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Thỏa thuận mà các đương sự đạt được thông qua hòa giải VADS có hiệu lực thi hành như một bản án sau khi tòa án đã ra quyết định công nhận của các đương sự. quan hệ của các đương sự trong trường hợp này là quan hệ pháp luật tố tụng dân sự.
5. So sánh hậu quả pháp lý trong hai trường hợp hòa giải trong 2 giai đoạn cụ thể dưới đây
So sánh hậu quả pháp lý trong hai trường hợp: (1) các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên hòa giải trước phiên tòa sơ thẩm và (2) các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trước phiên tòa phúc thẩm?
Trường hợp 1: Các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án - thẩm phán hoặc thư ký toà án lập biên bản hòa giải thành. Hết 7 ngày không thay đổi ý kiến thì thẩm phán chủ trì phiên tòa ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Quyết định này không bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Các đương sự thỏa thuận được giải quyết toàn bộ vụ án mà không thỏa thuận được trách nhiệm chịu án phí, mức án phí, tòa án không công nhận sự thỏa thuận và tiến hành mở phiên toà các đương sự chỉ thỏa thuận được giải quyết một phần thì toà án ghi vào biên bản hòa giải và tiến hành đưa vụ án ra xét xử.
Trường hợp 2: Trường hợp trước khi mở phiên toà phúc thẩm, các đương sự đã tự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và các đương sự yêu cầu Tòa ăn cấp phúc thẩm công nhận sự thỏa thuận của họ, thì Tòa án yêu cầu các đương sự làm văn bản ghi rõ nội dung thỏa thuận và nộp cho Tòa án cấp phúc thẩm để đưa vào hồ sơ vụ án. Văn bản này được coi như chứng cứ mới bổ sung. Tại phiên tòa phúc thẩm Hội đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi lại các đương sự về thỏa thuận của họ là có tự nguyện hay không và xem xét thỏa thuận đó có trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội hay không; nếu thoả thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, thì Hội đồng xét xử vào phòng nghị án thảo luận và ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê