1. Giới thiệu tác giả
Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay do TS. Phạm Thị Hương Lan biên soạn. TS. Phạm Thị Hương Lan là nghiên cứu viên chính Phòng Luật Tài nguyên và Môi trường, Viện Nhà nước và Pháp luật.
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách chuyên khảo Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay
TS. Phạm Thị Hương Lan
Nhà xuất bản lao động
3. Tổng quan nội dung sách
Hòa giải là biểu hiện nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam. Về bản chất, hòa giải nhằm giữ gìn tình làng, nghĩa xóm; tăng cường tình đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng; kịp thời giải quyết những xích mích, mâu thuẫn ở cơ sở; ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật; góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội, giảm bớt vụ việc phải đưa lên Tòa án nhân dân hoặc UBND các cấp giải quyết; tiết kiệm thời gian, tiền bạc của Nhà nước và nhân dân.
Với ý nghĩa cao đẹp và vai trò quan trọng nên công tác hòa giải luôn được Đảng, Nhà nước và xã hội quan tâm động viên, khuyến khích, nhân dân đồng tình ủng hộ. Sự ghi nhận tại Điều 127 Hiến pháp năm 1992: “Ở cơ sở, thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật” và được khẳng định trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 “khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài” là minh chứng cho sự tồn tài và phát triển tất yếu của công tác hòa giải nói chung và hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai nói riêng. Thể chế hóa quy định trên của Hiến pháp, trong thời gian qua, Quốc hội đã ban hành Luật Hòa giải cơ sở và Luật Đất đai năm 2013. Đây là hai văn bản nền tảng quy định về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay. Tuy nhiên, hòa giải tranh chấp đất đai vẫn quy định còn chung chung, nhiều khi áp dụng chỉ mang tính hình thức và chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế đặt ra. Quy định pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay còn nhiều hạn chế nhất định cần phải tiếp tục hoàn thiện để phù hợp với thực tế như: trình tự, thủ tục, thành phần tham gia hòa giải ở cơ sở, ở UBND cấp xã; hiệu lực thi hành các văn bản công nhận hòa giải thành; quy trình tố tụng hòa giải ở tòa án;…
Cuốn sách "Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay" do TS. Phạm Thị Hương Lan biên soạn với mong muốn đem đến cho độc giả cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện công tác hòa giải nói chung và hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai nói riêng ở nước ta hiện nay.
Cuốn sách được biên soạn với các chương mục như sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay
- Khái quát về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai
- Đặc điểm của tranh chấp đất đai
- Bản chất của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai
- Các nguyên tắc của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai
- Quy trình hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai
- Các yếu tố tác động đến hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai
- Hòa giải trong tranh chấp đất đai và hòa giải các loại tranh chấp khác
- Sự hình thành và phát triển của chế định hòa giải tranh chấp đất đai trong pháp luật Việt Nam
- Ý nghĩa của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai
Chương 2. Thực trạng pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay
- Các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm và thẩm quyền hòa giải tranh chấp đất đai
- Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai
- Phương pháp tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai
- Hiệu lực công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay
- Nhu cầu phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai
- Phương hướng chung của việc hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay
- Giải pháp cụ thể hoàn thiện các quy định về hòa giải trong gaiir quyeeys tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay
Phụ lục
1. Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013
2. Luật đất đai năm 2013
3. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
4. Luật khiếu nại năm 2011
5. Luật tố cáo năm 2018
6. Nghị định 15/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hòa giải ở cơ sở
7. Công văn 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2018 Giải đáp một số vấn đề về tố tụng hình chính
8. Công văn 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ
9. Chỉ thị 04/2017/CT-CA ngày 3/10/2017 Về việc tăng cường công tác hòa giải tại Tòa án nhân dân
10. Án lệ số 10/2016/AL về khiếu kiện quyết định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
11. Án lệ số 11/2017/AL Về công nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất mà trên đất có tài sản không thuộc sở hữu của bên thế chấp
12. Án lệ số 14/2017/AL Về công nhận điều kiện của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất mà điều kiện đó không được ghi trong hợp đồng
13. Án lệ số 15/2017/AL Về công nhận thỏa thuận miệng của các đương sự trong việc chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp
14. Án lệ số 16/2017/AL về công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng
Trích nội dung sách:
Hòa giải đi vào cuộc sống của nhân dân ta từ bao đời nay bởi người Việt Nam luôn coi trọng tình làng, nghĩa xóm. Hòa giải không chỉ đơn thuần góp phần củng cố tình làng, nghĩa xóm, tăng cường tình đoàn kết trong cộng đồng dân cư, hạn chế các tranh chấp dân sự và phòng ngừa tội phạm, mà còn góp phần quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
Về mặt lý luận thì hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai bao gồm nhiều khái niệm cấu thành như: Tranh chấp đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai, hòa giải và hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai.
1.1. Quan niệm về tranh chấp đất đai
Tranh chấp theo từ điển tiếng Việt thì tranh chấp nói chung được hiểu là việc “Giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào”. Theo đó được hiểu tranh chấp là sự tranh đấu, giằng co khi có sự bất đồng, thường là trong vấn đề lợi ích, quyền lợi giữa hai hay nhiều bên với nhau. Dưới góc độ pháp lý, tranh chấp được hiểu là những xung đột, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật như tranh chấp dân sự, tranh chấp thương mại, tranh chấp lao động…
Tranh chấp đất đai có quan điểm cho rằng “là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất”, hay quan điểm cho rằng: “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai”. Theo quy định tại khoản 24 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 thì: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Từ khái niệm này cho ta thấy tranh chấp đất đai ở đây là tranh chấp về “quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất”. Trước hết khi nghiên cứu về quyền của người sử dụng đất cớ vấn đề đặt ra là tại sao không phải là tranh chấp về quyền sở hữu đất đai mà chỉ tranh chấp về quyền sử dụng đất giữa các chủ thể? Theo quy định tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013 và Luật đất đai 2013 đều xác định rõ: đất đai là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước có các quyền và nghĩa vụ trong việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu Nhà nước và thống nhất quản lý hà nước về đất đai. Nhà nước tham gia vào mối quan hệ pháp luật đất đai với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền sở hữu đối với đất đai, vừa với tư cách là chủ thể của quyền lực công thực hiện chức năng quản lý mọi lĩnh vực cần thiết của đời sống xã hội. Theo quy định Luật đất đai thì Nhà nước có các quyền và nghĩa vụ cơ bản sau:
- Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai như: Quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định, xét duyệt quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất (sau đây gọi chung là quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất); Quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất; Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; Định giá đất.
- Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính về đất đai như: Thu tiền sử dụng đất, tiền thuê dất; Thu thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất; Điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại.
- Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
- Về quản lý nhà nước về đất đai thì Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai gồm: Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó; Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính
4. Đánh giá bạn đọc
Về nội dung hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu và biên soạn, cuốn sách của tác giả Phạm Thị Hương Lan đã có những nghiên cứu chuyên sâu về mặt lý luận và thực trạng pháp luật Việt Nam về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai. Bên cạnh những nội dung phân tích, đánh giá tác giả còn kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai.
Hơn thế nữa, tác giả còn dành phần phụ lục để trích toàn bộ các văn bản pháp lý liên quan và một số án lệ tiêu biểu trong giải quyết tranh chấp đất đai để bạn đọc thuận tiện tra cứu và tham khảo.
5. Kết luận
Sách Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay do TS. Phạm Thị Hương Lan biên soạn là một cuốn sách chuyên khảo hữu ích phục vụ nhu cầu nghiên cứu của bạn đọc về hòa giải tranh chấp đất đai hiện nay.