1. Như thế nào là cơ sở tín ngưỡng theo luật?
Theo Điều 2, Khoản 1 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, tín ngưỡng được định nghĩa là niềm tin cá nhân của con người, được thể hiện qua các nghi thức kết hợp với các phong tục và tập quán truyền thống, nhằm tạo ra sự bình an tinh thần cho cá nhân và cộng đồng.
Tín ngưỡng dân gian Việt Nam, còn được gọi là tín ngưỡng truyền thống Việt Nam, đặc trưng bởi sự phản ánh của văn hóa bản địa, xuất phát từ những dân tộc và cộng đồng sống trên lãnh thổ Việt Nam qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau.
Các niềm tin này chủ yếu dựa trên quan niệm nhân gian, trong đó con người tôn trọng và tin vào sự hiện diện của thần linh, có thể là linh hồn của người đã khuất, cây cỏ, động vật, hoặc bất kỳ yếu tố tự nhiên nào.
Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016, theo Khoản 4, Điều 2, xác định rằng cơ sở tín ngưỡng bao gồm các đình, đền, miếu, nhà thờ dòng họ và các cơ sở tương tự, là nơi thực hiện các hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng.
Bổ sung vào đó, theo Khoản 2, Điều 2 của luật, các hoạt động tín ngưỡng bao gồm thờ cúng tổ tiên, tôn vinh biểu tượng linh thiêng, kỷ niệm và tôn vinh những người đã có công với đất nước và cộng đồng, cùng các lễ nghi dân gian đặc trưng, nhằm gìn giữ và thể hiện giá trị lịch sử, văn hóa và đạo đức xã hội.
Tín ngưỡng ở Việt Nam hiển thị những đặc trưng đặc biệt sau đây:
- Tín ngưỡng là bức tranh phong phú của đời sống tâm linh, đa dạng và thể hiện sự khoan dung, độ lượng, cũng như tinh thần đoàn kết toàn dân tộc.
- Mỗi tín ngưỡng mang đặc điểm văn hóa riêng biệt, nhưng tất cả đều hướng đến giá trị Chân - Thiện - Mỹ, góp phần tạo ra vẻ đẹp đa dạng và phong phú của văn hóa dân tộc.
- Vấn đề tín ngưỡng là một lãnh vực rất nhạy cảm, thường xuyên bị các thế lực thù địch lợi dụng để tạo ra sự mất ổn định trong an ninh chính trị, trật tự xã hội và an toàn cộng đồng.
2. Hoạt động tín ngưỡng của cơ sở tín ngưỡng có phải đăng ký hay không?
Dựa theo quy định của Điều 12 trong Luật Tín ngưỡng tôn giáo năm 2016, việc đăng ký hoạt động tín ngưỡng được quy định như sau:
- Các hoạt động tín ngưỡng của cơ sở tín ngưỡng cần phải được đăng ký, trừ trường hợp của nhà thờ dòng họ.
- Người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng chịu trách nhiệm gửi văn bản đăng ký tới Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cơ sở tín ngưỡng đặt tại, và phải thực hiện việc này trước 30 ngày so với ngày cơ sở tín ngưỡng bắt đầu thực hiện hoạt động tín ngưỡng, trừ khi có quy định khác tại Điều 14 của Luật này.
- Văn bản đăng ký cần chi tiết rõ tên cơ sở tín ngưỡng, các hoạt động tín ngưỡng, nội dung, quy mô, thời gian, và địa điểm diễn ra các hoạt động.
- Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phản hồi bằng văn bản trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đăng ký hợp lệ; trong trường hợp từ chối đăng ký, lý do cụ thể phải được nêu rõ.
- Trong trường hợp hoạt động tín ngưỡng không được đề cập trong văn bản đăng ký ban đầu, người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng phải đăng ký bổ sung theo quy định của Khoản 2 Điều này, và phải thực hiện việc này trước 20 ngày so với ngày diễn ra các hoạt động tín ngưỡng.
Điều này đồng thời làm rõ rằng, hoạt động tín ngưỡng của cơ sở tín ngưỡng cần phải được đăng ký. Trừ trường hợp đối với nhà thờ dòng họ, không yêu cầu phải đăng ký hoạt động tín ngưỡng theo quy định.
Mẫu văn bản đăng ký có thể được tham khảo tại Mẫu B1, được ban hành kèm theo Nghị định 162/2017/NĐ-CP.
3. Người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng là ai theo quy định?
Dựa theo quy định của Điều 11 trong Luật Tín ngưỡng tôn giáo năm 2016, về người đại diện và ban quản lý cơ sở tín ngưỡng, các điều luật được xác định như sau:
- Cơ sở tín ngưỡng phải có người đại diện hoặc ban quản lý để chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động diễn ra tại cơ sở tín ngưỡng.
- Người đại diện hoặc thành viên ban quản lý cơ sở tín ngưỡng cần là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và uy tín trong cộng đồng dân cư.
- Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi có cơ sở tín ngưỡng, hợp tác với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp để cộng đồng dân cư bầu, cử người đại diện hoặc thành viên ban quản lý. Sau quá trình bầu, cử và theo các điều kiện quy định, Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ công nhận người đại diện hoặc thành viên ban quản lý cơ sở tín ngưỡng trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày bầu, cử.
- Việc bầu, cử người đại diện hoặc thành lập ban quản lý tại các cơ sở tín ngưỡng được xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh sẽ tuân thủ theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa.
- Trái lại, việc bầu, cử người đại diện hoặc thành lập ban quản lý nhà thờ dòng họ sẽ không phải tuân theo quy định tại Khoản 3 Điều này.
Điều 10 của Luật Tín ngưỡng tôn giáo cũng quy định về nguyên tắc tổ chức hoạt động tín ngưỡng, trong đó:
- Hoạt động tín ngưỡng và lễ hội tín ngưỡng phải giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
- Việc tổ chức các hoạt động tín ngưỡng và lễ hội tín ngưỡng phải đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tiết kiệm và bảo vệ môi trường.
4. Những hoạt động tín ngưỡng nào bị pháp luật nghiêm cấm?
Theo Điều 2, Khoản 2 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, hoạt động tín ngưỡng bao gồm các hành động thờ cúng tổ tiên, tôn vinh các biểu tượng linh thiêng, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với đất nước và cộng đồng, cũng như thực hiện các lễ nghi dân gian tiêu biểu, nhằm gìn giữ và thể hiện giá trị lịch sử, văn hóa, và đạo đức xã hội.
Ngược lại, theo Điều 5, Khoản 4 của cùng Luật, hoạt động tín ngưỡng bị nghiêm cấm trong những trường hợp sau:
- Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, và môi trường.
- Xâm hại đạo đức xã hội; gây tổn thương đến thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản của người khác; và xúc phạm danh dự và nhân phẩm của người khác.
- Cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân.
- Chia rẽ dân tộc; gây chia rẽ trong tôn giáo; phân đoạn người theo tín ngưỡng, tôn giáo so với những người không theo tín ngưỡng, tôn giáo; tạo ra sự chia rẽ giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau.
5. Quyền tự do tín ngưỡng được quy định như thế nào?
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được nhà nước đặt ra theo quy định tại Điều 24 Hiến pháp 2013, với các điểm cụ thể như sau:
- Mọi người đều được quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, có thể theo hoặc không theo một tôn giáo cụ thể. Sự bình đẳng của các tôn giáo được đảm bảo trước pháp luật.
- Nhà nước cam kết tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mỗi cá nhân.
- Không có ai được phép xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác, cũng như lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm quy định pháp luật.
Cụ thể, quyền tự do này đã được chi tiết hóa tại Điều 6 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 như sau:
- Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, có thể lựa chọn theo hoặc không theo bất kỳ tôn giáo nào.
- Mỗi người được quyền thể hiện niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo của mình; thực hành các nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia các lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, luật lệ tôn giáo.
- Mỗi người cũng được quyền tham gia tu tại cơ sở tôn giáo, học tập tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng của tổ chức tôn giáo. Trong trường hợp người chưa thành niên muốn tham gia tu tại cơ sở tôn giáo hoặc học tập tại cơ sở đào tạo tôn giáo, sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ là cần thiết.
- Chức sắc, chức vụ, nhà tu hành đều được quyền thực hiện các nghi lễ tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc các địa điểm hợp pháp khác.
- Người bị tạm giữ, tạm giam theo quy định pháp luật; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc đều được quyền sử dụng kinh sách và thể hiện niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo của mình.
Bài viết liên quan: Hành vi nào bị nghiêm cấm trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo?
Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi!