1. Một số yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông
Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông được quy định cụ thể tại Điều 30 Luật Giáo dục 2019 như sau:
- Nội dung giáo dục phổ thông phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học.
- Yêu cầu về nội dung giáo dục phổ thông ở các cấp học được quy định như sau:
+ Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh nền tảng phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội; có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có nhận thức đạo đức xã hội; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật;
+ Giáo dục trung học cơ sở củng cố, phát triển nội dung đã học ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp;
+ Giáo dục trung học phổ thông củng cố, phát triển nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho học sinh, có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh.
- Phương pháp giáo dục phổ thông phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc trưng từng môn học, lớp học và đặc điểm đối tượng học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập; phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình giáo dục.
2. Học sinh trung học xin lại có giới hạn độ tuổi không?
Căn cứ theo quy định tại Điều 33 Điều lệ ban hành kèm theo Thông tư 32/2020/TT-BGDĐT quy định về tuổi của học sinh trường trung học cụ thể như sau:
- Tuổi của học sinh vào học lớp 6 là 11 tuổi. Tuổi của học sinh vào học lớp 10 là 15 tuổi. Đối với những học sinh được học vượt lớp ở cấp học trước hoặc học sinh vào cấp học ở độ tuổi cao hơn tuổi quy định thì tuổi vào lớp 6 và lớp 10 được giảm hoặc tăng căn cứ vào tuổi của năm tốt nghiệp cấp học trước.
- Học sinh là người dân tộc thiểu số, học sinh khuyết tật, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, học sinh ở nước ngoài về nước có thể vào cấp học ở tuổi cao hơn 03 tuổi so với tuổi quy định.
- Học sinh không được lưu ban quá 03 lần trong một cấp học.
- Học sinh có thể lực tốt và phát triển sớm về trí tuệ có thể vào học trước tuổi hoặc học vượt lớp trong phạm vi cấp học. Việc xem xét đối với từng trường hợp cụ thể được thực hiện theo các bước sau:
+ Cha mẹ hoặc người đỡ đầu có đơn đề nghị với nhà trường.
+ Hiệu trưởng thành lập Hội đồng khảo sát, tư vấn gồm thành phần cơ bản sau: đại diện của Lãnh đạo trường và Ban đại diện cha mẹ học sinh của trường; giáo viên dạy lớp học sinh đang theo học.
+ Căn cứ kết quả khảo sát của Hội đồng khảo sát, tư vấn, hiệu trưởng xem xét, quyết định.
- Học sinh trong độ tuổi quy định ở nước ngoài về nước, con em người nước ngoài làm việc tại Việt Nam được học ở trường trung học tại nơi cư trú hoặc trường trung học ở ngoài nơi cư trú nếu trường đó có khả năng tiếp nhận. Việc xem xét đối với từng trường hợp cụ thể được thực hiện theo các bước sau:
+ Cha mẹ hoặc người đỡ đầu có đơn đề nghị với nhà trường.
+ Hiệu trưởng tổ chức khảo sát trình độ của học sinh và xếp vào lớp phù hợp.
Đồng thời, tại khoản 2 Điều 4 Quy định ban hành kèm theo Quyết định 51/2002/QĐ-BGDĐT quy định rằng đối tượng xin học lại là học sinh xin học lại sau thời gian nghỉ nhưng còn trong độ tuổi quy định của từng cấp học.
Theo đó, học sinh trung học xin học lại sẽ bị giới hạn độ tuổi.
3. Quy định pháp luật về sĩ số các bậc giáo dục
Sĩ số lớp học cấp tiểu học:
Theo quy định tại Điều 16 Điều lệ trường tiểu học ban hành kèm Thông tư 28/2020/TT-BGDĐT quy định về tổ chức lớp học, khối lớp học, điểm trường tiểu học như sau:
- Mỗi lớp học do 01 giáo viên chủ nhiệm phụ trách và có không quá 35 học sinh.
- Đối với mỗi lớp học hoà nhập thì có không quá 02 học sinh khuyết tật, trong trường hợp đặc biệt, căn cứ vào điều kiện thực tế thì hiệu trưởng để sắp xếp thêm học sinh khuyết tật trong một lớp học để đảm bảo những học sinh khuyết tật có khả năng và có nhu cầu đều được đi học.
Có thể tổ chức lớp ghép tại những địa bàn miền núi, vùng đặc biệt khó khăn. Số lượng học sinh và số nhóm trình độ trong một lớp phải phù hợp với điều kiện của nhà trường và năng lực dạy học của giáo viên.
Một lớp ghép có không quá 02 nhóm trình độ, trường hợp đặc biệt sẽ do cấp có thẩm quyền quyết định nhưng cũng không quá 03 nhóm trình độ. Sĩ số lớp ghép có không quá 15 học sinh, để đảm bảo các học sinh đều được quan tâm.
Lớp học có lớp trưởng và các lớp phó quan lý và phụ trách công việc cho lớp. Học sinh trong lớp cần được chia nhỏ để dễ quan lí và kiểm tra giám sát: chia thành các tổ, mỗi tổ có tổ trưởng, tổ phó. Lớp trưởng, lớp phó, tổ trưởng, tổ phó là do học sinh ứng cử hoặc giáo viên chủ nhiệm giới thiệu. Tạo sự công bằng bình đẳng và làm theo nguyện vọng của học sinh.
Đồng thời, được học sinh trong lớp, trong tổ bầu chọn và luân phiên trong năm học. Như vậy có thể thay thế những bạn làm chưa tốt cũng như tạo cơ hội cho các bạn mới tham gia vào quản lí công việc lớp.
Đối với các lớp cùng trình độ được lập thành khối lớp để phối hợp trong các hoạt động chung, ví dụ như tham gia đại hội thể thao, thi học sinh giỏi cấp tỉnh hay cấp huyện. Tỉ lệ học sinh nam, học sinh nữ và sĩ số lớp học phải được cân đối giữa các lớp trong khối lớp.
Sĩ số lớp học cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông:
Theo Điều 16 Điều lệ trường trung học cơ sở, trung học phổ thông ban hành kèm Thông tư 32/2020/TT-BGDĐT, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể số học sinh trong mỗi lớp, bảo đảm mỗi lớp học ở các cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông không vượt quá 45 học sinh.
Trong đó, cũng như sĩ số các lớp tiểu học, mỗi lớp trung học đều có lớp trưởng và các lớp phó do học sinh ứng cử hoặc giáo viên chủ nhiệm giới thiệu, sẽ tổ chức các cuộc bầu chọn vào đầu năm học hoặc sau mỗi học kỳ.
Mỗi lớp học được chia thành nhiều tổ học sinh; mỗi tổ có tổ trưởng và tổ phó do học sinh ứng cử hoặc giáo viên chủ nhiệm giới thiệu, được học sinh trong tổ bầu chọn vào đầu năm học hoặc sau mỗi học kỳ. Nhằm mục đích quản lí kiểm tra giám sát việc học tập hay thi đua giữa các tổ lành mạnh và có hiệu quả.
Xem thêm: Đối với học sinh trung học cơ sở, lĩnh vực nào sau đây có ảnh hưởng lớn nhất?
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Học sinh trung học xin học lại có giới hạn độ tuổi không? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!