- 1. Toà án quân sự có thẩm quyền xét xử vụ án dân sự không ?
- 2. Thẩm quyền của các Toà chuyên trách Toà án nhân dân được quy định như thế nào ?
- 3. Thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài
- 4. Phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại giữa Toà án và Trọng tại thương mại
- 5. Thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức được quy định thế nào ?
1. Toà án quân sự có thẩm quyền xét xử vụ án dân sự không ?
Câu hỏi: Thưa Luật sư, tôi có đọc vài thông tin được biết Toà án quân sự xét xử các vụ án hình sự mà bị cáo là người trong quân đội. Tôi đang có trường hợp người bạn là quân nhân tại ngũ, vay tiền tôi với số tiền khá lớn mà khất mãi chưa trả. Tôi sợ anh ta cố tình không trả tiền thì tôi có thể khởi kiện ra Toà án quân sự được không ?
Trả lời:
Thứ nhất, về thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự, theo quy định tại Điều 49 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 và Điều 272 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Toà án quân sự được tổ chức trong Quân đội nhân dân Việt Nam để xét xử những vụ án mà bị cáo là quân nhân tại ngũ và những vụ án khác theo quy định của luật. Mà Điều 272 BLTTHS quy định như sau:
Điều 272. Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự
1. Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử:
a) Vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân;
b) Vụ án hình sự mà bị cáo không thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu hoặc gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của Quân đội nhân dân hoặc phạm tội trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ.
2. Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử tất cả tội phạm xảy ra trong địa bàn thiết quân luật.
Bên cạnh đó, trong phạm vi điều chỉnh và nhiệm vụ của Bộ luật Tố tụng dân sự, các nguyên tắc và trình tự, thủ tục tố tụng được quy định để đảm bảo Toà án nhân dân thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà không bao gồm Toà án quân sự.
Do vậy, có thể xác định Toà án quân sự chỉ giải quyết các vụ án hình sự với các đối tượng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 272 và các vụ án khác theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 272 nêu trên.
Thứ hai, về việc người bạn là quân nhân tại ngũ vay tiền, nếu chưa có dấu hiệu tội phạm (ví dụ như bỏ trốn để không trả tiền bạn, dùng tiền vay vào hoạt động phi pháp dẫn đến mất khả năng trả nợ ... trong Tội Lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản) thì bạn chưa thể tố cáo người này. Vụ việc mới chỉ và kiện dân sự đòi tiền. Và thẩm quyền giải quyết thuộc về Toà án nhân dân mà không phải Toà án quân sự.
2. Thẩm quyền của các Toà chuyên trách Toà án nhân dân được quy định như thế nào ?
Trong cơ cấu tổ chức của Toà án nhân dân các cấp, có thể được tổ chức thêm các Toà chuyên trách nhằm bảo đảm chuyên môn hóa việc giải quyết, xét xử của Tòa án theo từng lĩnh vực xét xử. Toà chuyên trách hiện nay được thiết lập trong hệ thống từ Toà án nhân dân cấp cao đến Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án nhân dân cấp huyện.
Đối với Toà án nhân dân cấp cao, toà chuyên trách có nhiệm vụ phúc thẩm các bản án, quyết định thuộc từng lĩnh vực như hình sự, dân sự, kinh doanh, thương mại,... chưa có hiệu lực pháp luật, bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định pháp luật.
Toà chuyên trách Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm các vụ việc và phúc thẩm các bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định pháp luật.
Toà chuyên trách Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ việc theo quy định pháp luật.
Trong cơ cấu tổ chức Toà án, không nhất thiết phải có Toà án chuyên trách. Toà chuyên trách được thiết lập khi cần thiết. Đối với trường hợp tại Tòa án không đủ điều kiện tổ chức Tòa chuyên trách thì phải bố trí Thẩm phán chuyên trách.
Thẩm quyền theo loại việc của Toà chuyên trách trong Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân cấp huyện và tương đương được quy định tại Điều 3 Thông tư 01/2016/TT-CA như sau:
Điều 3. Thẩm quyền của các Tòa chuyên trách
1. Tòa hình sự xét xử các vụ án hình sự,...
2. Tòa dân sự giải quyết các vụ việc dân sự; giải quyết các vụ việc kinh doanh thương mại, phá sản, lao động, hành chính trong trường hợp tại Tòa án đó không tổ chức Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa hành chính.
3. Tòa kinh tế giải quyết các vụ việc kinh doanh thương mại, phá sản.
4. Tòa hành chính giải quyết các vụ án hành chính.
5. Tòa lao động giải quyết các vụ việc lao động.
6. Tòa gia đình và người chưa thành niên giải quyết các vụ việc như sau: ...
7. Tòa xử lý hành chính xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, trừ những việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên.
Nhìn chung, việc thành lập các toà chuyên trách thực tế là sự phân công tổ chức và giao thẩm quyền chuyên xét xử những vụ án mà nội dung thuộc sự điều chỉnh của các ngành luật riêng nhằm mục đích chuyên môn hóa việc giải quyết xét xử của Tòa án theo từng lĩnh vực xét xử nhằm nâng cao chất lượng giải quyết, xét xử các loại vụ việc, tạo điều kiện phân công, bố trí, sắp xếp, đào tạo, bồi dưỡng, kiện toàn đội ngũ Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án.
3. Thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài
Ly hôn có yếu tố nước ngoài là việc ly hôn giữa một bên là công dân Việt Nam với một bên là người nước ngoài, người Việt định cư ở nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với nhau sinh sống tại Việt Nam; hoặc giữa người Việt Nam với nhau nhưng kết hôn tại nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản tranh chấp khi ly hôn ở nước ngoài.
Theo quy định tại Điều 127 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc ly hôn có yếu tố nước ngoài được quy định như sau:
Điều 127. Ly hôn có yếu tố nước ngoài
1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.
2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.
3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.
Theo đó, trường hợp các bên ly hôn có yếu tố nước ngoài nộp hồ sơ ly hôn tại Toà án nhân dân ở Việt Nam, thẩm quyền giải quyết của Toà án được quy định như sau:
Về thẩm quyền theo cấp Tòa án: Theo quy định tại Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định đối với những vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân cấp Tỉnh.
Về thẩm quyền Tòa án theo lãnh thổ: Theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì thẩm quyền Tòa án theo lãnh thổ đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình được xác định là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức.
Về thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn được quy định tại Điều 40 BLTTDS 2015 như sau:
“Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:
a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;
…….
c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;”
4. Phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại giữa Toà án và Trọng tại thương mại
Theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 01/2014/NQQ-HĐTP, việc phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại giữa Toà án và Trọng tài thương mại được quy định như sau:
Thứ nhất, trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp quy định tại Điều 2 Luật Trọng tài thương mại nếu các bên có thoả thuận trọng tài quy định tại Điều 5 và Điều 16 Luật TTTM, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 2 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP. Có nghĩa là, những tranh chấp về kinh doanh thương mại mà các bên có thoả thuận giải quyết bằng trọng tài theo đúng quy định về thời điểm và hình thức thoả thuận, không rơi vào khoản 3 Điều 2 Nghị quyết 01 thì sẽ giải quyết bằng trọng tài thương mại.
Thứ hai, Toà án sẽ giải quyết các tranh chấp về kinh doanh thương mại tuỳ vào các trường hợp sau:
- Trường hợp tranh chấp KDTM không có thoả thuận trọng tài hoặc đã có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định, phán quyết có hiệu lực pháp luật của Trọng tài xác định vụ tranh chấp không có thỏa thuận trọng tài thì Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
- Tranh chấp có thỏa thuận trọng tài nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác:
+ Có quyết định của Tòa án huỷ phán quyết trọng tài, hủy quyết định của Hội đồng trọng tài về việc công nhận sự thỏa thuận của các bên;
+ Có quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài, Trung tâm trọng tài quy định tại khoản 1 Điều 43 các điểm a, b, d và đ khoản 1 Điều 59 Luật TTTM;
5. Thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức được quy định thế nào ?
Thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan tổ chức được quy định tại Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 như sau:
Điều 34. Thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức
1. Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết.
- Nếu quyết định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 là quyết định đã được ban hành về một vấn đề cụ thể và được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Trường hợp vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định này thì phải được Tòa án xem xét trong cùng một vụ việc dân sự đó.
- Khi xem xét hủy quyết định quy định tại khoản 1 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án phải đưa cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền đã ban hành quyết định tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền đã ban hành quyết định phải tham gia tố tụng và trình bày ý kiến của mình về quyết định cá biệt bị Tòa án xem xét hủy.
- Thẩm quyền của cấp Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp có xem xét việc hủy quyết định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 được xác định theo quy định tương ứng của Luật tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
Thẩm quyền của Toà án nhân dân đối với các quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức được quy định tại các Điều 30, Điều 31 và Điều 32 Luật tố tụng Hành chính năm 2015 như sau:
Điều 31. Thẩm quyền của Tòa án cấp huyện
Tòa án cấp huyện giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây:
1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước đó, trừ quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện.
...
Điều 32. Thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh
Tòa án cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây:
1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án; trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính.
....
Trân trọng!