Toà án quốc tế về Luật Biển được viết tắt là ITLOS. Toà ITLOS có hai thẩm quyền chính là giải quyết các tranh chấp và cho ý kiến tư vấn. Ngoài ra. Toà còn có thẩm quyền phái sinh như: thẩm quyền á dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và thẩm quyền liên quan đến thả tàu nhanh
1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp
Thẩm quyền của ITLOS xuất phát dựa trên các quy định của phần XV Công ước Luật Biển 1982 quy định về quy chế của Toà án quốc tế về Luật Biển. Toà án quốc tế về Luật Biển có thẩm quyền giải quyết đối với tất cả các tranh chấp không được giả quyết theo các quy định ở Mục I, Phần XV (quy định về các đặc quyền và miễn trừ) và không rơi vào giới hạn ở Điều 297 và ngoại lê tuỳ chọn được quy định ở Điều 298. Theo quy định tại Điều 288 quy định về thẩm quyền:
1. Một tòa án đã nêu ở Điều 287 có thẩm quyền xét xử bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước đã được đưa ra cho mình theo đúng phần này.
2. Một tòa án nói ở Điều 287 cũng có thẩm quyền xét xử bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích hay áp dụng một điều ước quốc tế có liên quan đến các mục đích của Công ước và đã được đưa ra cho mình theo đúng điều ước này.
3. Viện giải quyết tranh chấp liên quan đến đáy biển được lập nên theo đúng phụ lục VI và bất kỳ viện nào khác, hay tòa trọng tài nào khác, đã nêu ở Mục 5 của Phần XI, đều có thẩm quyền xét xử mọi vấn đề đã được đưa ra cho mình theo đúng mục đó.
4. Trong trường hợp có sự tranh cãi về vấn đề một tòa án có thẩm quyền hay không, thì vấn đề này do tòa án đó quyết định.
Như vậy, Toà án quốc tế về luật Biển cũng có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến giải thích và áp dụng các thoả thuận khác liên quan đến mục đích của Công ước được đệ trình phù hợp với quy định của thoả thuận đó.
Ngoài ra, Toà ITOS còn có thẩ quyền giải quyết đối với các tranh chấp liên quan đến hoạt động ở vùng dáy biển quốc tế
2. Thẩm quyền cho ý kiến tư vấn
Thẩm quyền cho ý kiến tư vấn của Toà án Quốc tế về Luật Biển được chia làm hai loại: thẩm quyền của Viện giải quyết tranh chấp đáy biển (Seabed Dispute Chamber - SDC) và thẩm quyền của toàn thể Toà án quốc tế về Luật Biển.
Về thẩm quyền của Viện giải quyết tranh chấp đáy biển:
Viện có thẩm quyền cho ý kiến tư vấn theo yêu cầu của Đại hội đồng hoặc Hội đồng cuả cơ quan Quyền lực Đáy biển quốc tế (ISA ) về các câu hỏi pháp lý nằm trong phạm vi hoạt động của hai cơ quan này, theo quy định tại Điều 187 UNCLOS:
Điều 187. Thẩm quyền của viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển
Theo phần này và các phụ lục có liên quan, Viện giải quyết tranh chấp liên quan đến đáy biển có thẩm quyền xét xử những loại tranh chấp về những hoạt động tiến hành trong Vùng sau đây:
a) Các vụ tranh chấp giữa các quốc gia thành viên liên quan đến việc giải thích hay áp dụng phần này và các phụ lục có liên quan;
b) Các vụ tranh chấp giữa một quốc gia thành viên và Cơ quan quyền lực liên quan đến:
i. Các hành động hay thiếu sót của Cơ quan quyền lực hay của một quốc gia thành viên được viện dẫn là đã vi phạm các quy định của phần này hay các phụ lục có liên quan hay các quy tắc quy định hay thủ tục đã được Cơ quan quyền lực thông qua theo đúng các quy định này; hoặc
ii. Các hành động của Cơ quan quyền lực được viện dẫn là đã vượt quá thẩm quyền của mình hay đã lạm quyền;
c) Các vụ tranh chấp giữa các bên ký kết một hợp đồng, dù các bên này là các quốc gia thành viên, là Cơ quan quyền lực hay Xí nghiệp, hay các xí nghiệp của Nhà nước hoặc các tự nhiên nhân hay pháp nhân đã nêu ở Điều 153, khoản 2, điểm b, liên quan đến:
i. Việc giải thích hay thi hành một hợp đồng hay một kế hoạch làm việc; hoặc
ii. Các hành động hay thiếu sót của một bên ký kết hợp đồng liên quan đến các hoạt động tiến hành trong Vùng và làm ảnh hưởng đến bên khác hay trực tiếp gây tổn hại đến các lợi ích chính đáng của các bên khác đó;
d) Các vụ tranh chấp giữa Cơ quan quyền lực và một người yêu cầu được một quốc gia bảo trợ theo đúng Điều 153, khoản 2, điểm b và đã thoản mãn các điều kiện được quy định ở Điều 4, khoản 6 và Điều 13, khoản 2 của Phụ lục III, có liên quan đến việc từ chối ký kết hợp đồng hay đến một vấn đề pháp lý nảy sinh trong khi thương lượng về hợp đồng;
e) Các vụ tranh chấp giữa Cơ quan quyền lực và một quốc gia thành viên, một xí nghiệp Nhà nước hoặc một tự nhiên nhân hay pháp nhân do một quốc gia thành viên bảo trợ theo đúng Điều 153, khoản 2, điểm b, khi thấy rằng, theo Điều 22 của Phụ lục III, việc tranh chấp này có đụng đến trách nhiệm của Cơ quan quyền lực;
f) Bất kỳ tranh chấp nào khác mà Công ước đã trù định rõ ràng Viện có thẩm quyền giải quyết.
-> Yêu cầu xin ý kiến tư vấn cần được ưu tiên giải quyết trước các vụ viêc trah chấp. Theo quy định tại Điều 191 UNCLOS:
Điều 191. Ý kiến tư vấn
Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển đưa ra các ý kiến tư vấn theo yêu cầu của Đại hội đồng, hay Hội đồng về những vấn đề pháp lý được đặt ra trong những thời hạn ngắn nhất.
Về thẩm quyền của toàn thể Toà ITLOS
Thẩm quyền này được quy định ngầm định ở Điều 21 Phụ lục VI UNCLOS ( Quy chế toà ):
ĐIỀU 21. Thẩm quyền
Toà án có thẩm quyền đối với tất cả các vụ tranh chấp và tất cả các yêu cầu được đưa ra Toà theo đúng Công ước, và đối với tất cả các trường hợp được trù định rõ trong mọi thoả thuận khác, giao thẩm quyền cho Toà án.
3. Thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Toà án quốc tế về Luật Biển có thẩm quyền ra lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấp, tạm thời, theo Điều 290 Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982 khi thấy phù hợp với hoàn cảnh nhằm bảo đảm quyền của các bên trong tranh chấp hoặc ngăn nừa tổn hại nghiêm trọng đến môi trường biển, trong khi chờ phán quyết cuối cùng trên cở sở điều kiện nhất định.
Điều 290. Những biện pháp bảo đảm
1. Nếu một tòa án được đề nghị xét một vụ tranh chấp theo đúng thủ tục và thấy prima facie (hiển nhiên) là mình có thẩm quyền theo phần này hay Mục 5 của phần XI, thì tòa án này có thế qui định tất cả các biện pháp bảo đảm mà mình xét thấy thích hợp với tình hình để bảo vệ các quyền riêng của từng bên tranh chấp hay để ngăn không cho môi trường của biển bị những tổn thất nghiêm trọng, trong khi chờ quyết định cuối cùng.
2. Các biện pháp bảo đảm có thể bị sửa đổi hay hủy bỏ ngay khi các hoàn cảnh chứng minh cho các biện pháp đó thay đổi hay không còn tồn tại.
3. Các biện pháp bảo đảm chỉ có thể được qui định, sửa đổi hay hủy bỏ theo điều này, theo yêu cầu của một bên tranh chấp và sau khi đã tạo cho các bên tranh chấp khả năng thỏa thuận được với nhau.
4. Toà án thông báo ngay mọi biện pháp bảo đảm hay mọi quyết định sửa bỏ hay hủy bỏ biện pháp đó cho các bên tranh chấp, và nếu xét thấy thích hợp, thì thông báo cho các quốc gia thành viên khác.
5. Trong khi chờ lập ra một tòa trọng tài xét xử một vụ tranh chấp theo mục này, mọi tòa án do các bên thỏa thuận với nhau chỉ định, hoặc, nếu không thỏa thuận được trong một thời hạn 2 tuần sau ngày có yêu cầu các biện pháp bảo đảm. Toà án quốc tế về luật biển, hay trong trường hợp của các hoạt động tiến hành trong Vùng, Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển, có thể quy định, sửa đổi hay hủy bỏ các biện pháp bảo đảm theo đúng điều này, nếu như họ thấy prima facie (hiển nhiên) rằng tòa án cần được lập ra sẽ có thẩm quyền, và nếu như họ xét thấy rằng tính chất khẩn trương của tình hình đòi hỏi phải làm như vậy. Một khi được thành lập, tòa án được giao xét xử vụ tranh chấp, hành động theo đúng các khoản 1 đến 4, có thể sửa đổi, hủy bỏ hay xác nhận biện pháp bảo đảm này.
6. Các bên tranh chấp phải tuân theo không chậm trễ các biện pháp bảo đảm được quy định theo điều này.
Ví dụ về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: căn cứ vào tình hình khẩn cấp, Toà án quốc tế về Luật biển đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với Nga trong vụ Nga bắt giữ ba tàu hải quân ( và các thuỷ thủ ) của Ukraine.
4. Thẩm quyền liên quan đến thả tàu nhanh
Thẩm quyền thả tàu nhanh là một thẩm quyền đặc thù được trù định tại Điều 292 của UNCLOS:
Điều 292. Giải phóng ngay cho tàu thuyền bị cấm giữ hay trả tự do cho đoàn thuỷ thủ của nó
1. Khi các nhà chức trách của một quốc gia thành viên đã bắt giữ một chiếc tàu mang cờ của một quốc gia thành viên khác và nếu thấy rằng quốc gia bắt giữ chiếc tàu đã không tuân theo các qui định của Công ước trù định việc giải phóng ngay cho tàu thuyền hay trả tự do cho đoàn thủy thủ của nó ngay khi ký gởi một khoản tiền bảo lãnh hợp lý hay một khoản bảo đảm tài chính nào khác, thì vấn đề giải phóng tàu hay trả tự do cho đoàn thủy thủ phải được đưa ra trước một tóa án do các bên chỉ định theo một thỏa thuận chung; nếu không thỏa thuận đuợc trong một thời hạn 10 ngày kể từ lúc bắt giữ chiếc tàu hay đoàn thủy thủ, vấn đề này có thể được đưa ra trước một tòa án được quốc gia đã tiến hành bắt hay giữ tàu hay đoàn thủy thủ chấp nhận theo đúng Điều 287, hay trước Tòa án quốc tế về luật biển, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.
2. Yêu cầu giải phóng hay trả tự do chỉ có thể do quốc gia mà tàu mang cờ hoặc nhân danh quốc gia ấy đưa ra.
3. Tòa án nhanh chóng xem xét yêu cầu này và chỉ xét xử vấn đề giải phóng tàu hay trả tự do cho đoàn thủy thủ, việc này không có ảnh hưởng gì đến tiến trình tiếp sau của mọi vụ kiện mà chiếc tàu, người chủ chiếc tàu hay đoàn thủy thủ của nó có thể là đối tượng trước quyền tài phán quốc gia thích hợp. Các nhà chức trách của quốc gia đã tiến hành bắt, giữ vẫn có đủ tư cách ra lệnh giải phóng tàu hay trả tự do cho đoàn thủy thủ của nó vào bất kỳ lúc nào.
4. Ngay khi đã ký gửi khoản tiền bảo lãnh hay một khoản bảo đảm tài chính khác theo quyết định của tòa án, các nhà chức trách của quốc gia đã bắt giữ tàu phải tuân theo quyết định của tòa án về việc giải phóng tàu và trả tự do cho đoàn thủy thủ của nó.
Như vậy, Toà sẽ ra phán quyết thả tàu nhanh nếu quốc gia có tàu bị bắt giữ chứng minh đươc rằng quốc gia bắt giữ đang không tuân thủ các quy định của Công ước về thả tàu nhanh và thuỷ thủ sau khi nộp bảo lãnh hợp lý