Tòa án thương mại có thẩm quyền đối với những tranh chấp nào?Cũng như đối với mọi tòa án, cần phải phân biệt thẩm quyền theo việc và thẩm quyền theo lãnh thổ. Chế tài đối với việc vi phạm thẩm quyền theo loại việc
1. Thẩm quyền theo loại việc
Theo quy định tại Điều 30 BLTTDS năm 2015 thì những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án đã được sửa đổi bổ sung nhằm làm rõ các tranh chấp về kinh doanh thương mại phù hợp với Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp..., phân biệt giữa tranh chấp thương mại với tranh chấp dân sự. Cụ thể:
- Các tranh chấp về kinh doanh thương mại là những tranh chấp: phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại do luật thương mại điều chỉnh (không liệt kê những tranh chấp cụ thể như BLTTDS năm 2011).
- Tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị Giám đốc, Tổng giám đốc trong Công ty Cổ phần (Điều 72 và Điều 161 Luật Doanh nghiệp).
Các Tòa án thương mại là những tòa án đặc biệt cho nên chỉ có thẩm quyền xét xử những loại tranh chấp được pháp luật quy định cụ thể. Những loại việc thuộc thẩm quyền Tòa án thương mại.
Tòa án thương mại có thẩm quyền đối với:
- Những vụ tranh chấp có liên quan đến những hành vi thương mại của bất kỳ thể nhân họặc pháp nhân: Điều 631-3 Bộ luật thường mại
Tòa án thương mại có thẩm quyền kể cả trường hợp hành vi không do thương nhân, doanh nhân thực hiện. Đó là trường hợp tranh chấp có liên quan đến hối phiếu là một chứng thư thương mại đối với mọi người tham gia lưu thông hối phiếu.
- Những vụ tranh chấp có liên quan đến những cam kết và giao dịch giữa các thương nhân, doanh nhân.Đây có thể là hành vi thương mại về bản chẩt như đã nói ở trên, mà cũng có thể là hành vi thương mại phụ trong hợp đồng, hoặc là việc vi phạm pháp luật.Tuy nhiên, trong bất kỳ vụ tranh chấp nào giữa hai bên mà một bên không phải thương nhân, doanh nhân, hoặc hành vi chỉ có tính chất thương mại đối với một bên đương sự, thì bên đương sự không phải là thương nhân, doanh nhân hoặc không có hành vi thương mại, có quyền yêu cầu tòa án dân sự có thẩm quyền xét xử vụ tranh chấp. Nếu là nguyên đơn, họ có thể kiện một thương nhân, doanh nhân trước Tòa án dân sự hoặc Tòa án thương mại. Nếu là bị đơn, họ có thể, hoặc chấp nhận hoặc không chấp nhận thẩm quyền của Tòa án thương mại.
Tòa án thương mại cũng có thẩm quyền đối với các vụ kiện đòi thương nhân, doanh nhân phải trả tiền mua hàng tiêu dùng hoặc hàng hóa dùng cho cá nhân.
- Những vụ trạnh chấp giữa các thành viên của một công ty kinh doanh
- Những vụ tranh chấp có liên quan đến lệnh phiếu có chữ ký của ít nhất một thương nhân, doanh nhân Bộ luật thương mại. .
- Những vụ tranh chấp có liên quan đến thanh toán tư pháp hoặc thanh lý tài sản xảy ra sau khi đình chỉ thanh toán bán hoặc thế chấp cơ sở kinh doanh (hoặc có liên quan đến việc ghi chép vào đăng ký thương mại kinh doanh
- Những vụ kiện người giúp việc cho thương nhân, doanh nhân về những hành vi có liên quan đến thương mại, kinh doanh
2. Quan hệ giữa các yêu cầu của đương sự
Vụ kiện nhiều bị đơn phản tố.
a) Nếu yêu cầu của các đương sự có vấn đề thuộc về luật dân sự và có vấn đề thuộc về luật thương mại và các vấn dề có liên quan chặt chẽ với nhau không thể tách để xử riêng thì tòa án dân sự xét xử toàn bộ vụ kiện.
b) Tòa án dân sự cũng xét xử toàn bộ vụ kiện nhiều bị đơn, trong đó có bị đơn phải xử theo luật dân sự và có bị đơn phải xử theo luật thương mại.
c) Cũng như đối với yêu cầu chính cửa vụ kiện tòa án chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn nếu yêu cầu phản tố có liên quan đến hoạt động thương mại.
d) Nếu bị đơn tại Tòa án thương mại nêu lên mệt vấn đề thuộc về luật dân sự hoặc yêu câu giải thích một hợp đồng dân sự thì vấn đề này phải được Tòa án dân sự giải quyết trước khi Tòa án thương mại xét xử.
3. Chế tài đối với việc vi phạm thẩm quyền theo loại việc.
Nếu một bên đương Sư làm không đúng thẩm quyền của Tòa án thương mại thi phải làm như thế nào?Cách giải quyết vấn đề tại tòa án dân sự tỉnh
Trước hết, Tòa án thương mại phải triệu tập để nghe ý kiến của các đương sự về thẩm quyền rồi tuyên bố vô thẩm quyền nếu thấy đẳ có sự vi phạm thẩm quyền về loại việc vâ vi phạm trật tự công cộng (điều 92 bộ luật mới về tố tụng dân sự). Theo điều 171 ‘thì đó là những việc thuộc thẩm quyền của Toầ án dân sự hoặc hành chính về ly thân, ly sản, việc có liên quan đến thân nhân, vá nói chung lầ những việc quy định thẩm quyền thuộc về trật tự công cộng, hoặc những việc thuộc thẩm quyền trung thẩm của tòa án dân sự quận.
Đối với những trường hợp khác thì bên bị kiện phải nêu lên khởi kiện vì vô thẩm quyền và chỉ rõ tòa án nào có thẩm quyền. Tòa án phải phán xét ngay.
Nếu tòa án tuyên bố là có thẩm quyền và xét xử về nội dung trong cùng một bản án thì chỉ có thể kháng cáo lên cấp phúc thẩm.
Nếu tòa án chỉ quyết định về thẩm quyền thì có thể phản đối quyết định này bằng một đơn nói rõ lý do và giao cho văn phòng của tòa án trong thời hạn 15 ngày. Tòa án phúc thẩm sẽ xét và nếu cần thì chỉ định tòa án có thẩm quyền.
4. Thẩm quyền theo lãnh thổ
Thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ là giới hạn (khả năng) do pháp luật quy định xác định chức năng giải quyết các vụ việc KDTM của tòa án theo đơn vị hành chính lãnh thổ. Thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ quy định tòa án có nghĩa vụ giải quyết các vụ việc KDTM theo yêu cầu của đương sự khi khởi kiện. Thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ được xác định: nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở; theo sự lựa chọn của đương sự; đối với tranh chấp bất động sản thì tòa án có thẩm quyền là tòa án nơi có bất động sản.
Khi vụ kiện thuộc thẩm quyền của tòa án thương mại thì tòa án thướng mại nào xét xử?
1. Có thể chọn tòa án.
Theo điều 42 của bộ luật mới về tố tụng dân sự thì về nguyên tắc, nguyên đơn phải kiện bị đơn tại tòa án nơi thường trú của bị đơn
Nếu có nhiều bị đơn, nguyên đơn có quyền lựa chọn, kiện ở nơi thường trú của một trong những bị đơn
Nếu công ty có nhiều chi nhánh, hoặc nếu doanh nhấn có những cơ sở phụ thì án lệ cho phép nguyên đơn kiện tại tòa án nơi có chi nhánh, nhưng chi nhánh này phải có một đại diện có thẩm quyền và có quan hệ với nội dụng của vụ kiện. Án lệ này được coi là án lệ về "nhà ga chính".
Ngoài ra, về quan hệ hợp đồng (thường kiện ở các Tòa án thương mại) thì nguyên đơn có thể kiện tại tòa án hơi thực tế giao vật hoặc nơi thực hiện dịch vụ
Trong truờng hợp thanh toán tư pháp hoặc thanh lý tài sản thì tòa án có thẩm quyền là tòa án nơi thường trú của người mắc nợ. Nếu kiện những vấn đề về công ty thì kiện tại tòa án nơi có trụ sở của công ty. Trong trường hợp kiện về trách nhiệm dân sự thì có thể kiện tại tòa án nơi xảy ra sự kiện phạm pháp
2.Thỏa thuận trong hợp đồng về tòa án có thẩm quyền.
Trong hợp đồng kinh doanh thường có sự thỏa thuận giữa các bên về tòa án thương mại nào sẽ xử vụ kiện. Thỏa thuận này có giá trị nếu các bên là doanh nhân điều 48 bộ luật mới về tố tụng dân sự
Nếu tòa án có thẩm quyền không được chỉ định trong hợp đồng mà chỉ thể hiện trong thư từ, đơn đặt hàng hóa đơn mà bến kia không phản đối thì sự chỉ định đó cũng có giá trị.
Ví dụ: người mua đã nhận được hóa đơn mà không phản đối lời ghi chú trong đó là phải trả tiền nơi thường trú của người bán và việc tranh chấp sẽ do tòa án nơi đó xét xử.Tuy nhiên, điều 48 của bộ luật mới về tố tụng dân sự đã quy định là điều đó phải được ghi một cách thật rõ ràng thì mói có giá trị.
5. Thẩm quyền theo cấp xét xử của tòa án
Thẩm quyền theo cấp xét xử của tòa án là giới hạn do pháp luật quy định để tòa án các cấp thực hiện chức năng giải quyết các tranh chấp thương mại. Thông thường thẩm quyền của tòa án các cấp được phân chia căn cứ vào giá trị tranh chấp, tính chất của sự việc và khả năng, điều kiện của từng cấp tòa án.
Về thẩm quyền của tòa án theo cấp, giải quyết tranh chấp thương mại cơ bản giữ nguyên như BLTTDS 2011. Đồng thời có sửa đổi bổ sung một số nội dung như sau:
- Thẩm quyền Tòa án cấp huyện: Chủ yếu giải quyết các tranh chấp thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 theo thủ tục sơ thẩm;
- Thẩm quyền của các tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp huyện: Theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 thì Tòa án nhân dân cấp huyện có thể có một số Tòa chuyên trách (Điều 45 Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2014) cho nên BLTTDS năm 2015 đã quy định thẩm quyền đối với tòa chuyên trách của Tòa án nhân cấp huyện đối với việc giải quyết vụ việc tranh chấp thương mại như sau:
Tòa dân sự Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 30 của BLTTDS năm 2015; Đối với Tòa án nhân dân cấp huyện chưa có Tòa chuyên trách thì Chánh án Tòa án có trách nhiệm tổ chức công tác xét xử và phân công Thẩm phán giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện.
- Thẩm quyền của các tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp tỉnh: Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định Tòa kinh tế Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền:
+ Giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp, yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh;
+ Giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định kinh doanh, thương mại chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trong những trường hợp này, Điều 40 Thẩm quyền của tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu BLTTDS quy định có thể xác định thẩm quyền của tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn.
Mọi vướng mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết , Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài.
Công Ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn!!