1. Doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh có được hợp nhất và sáp nhập không ạ ?

2. Tách chi nhánh và tách doanh nghiệp có phải là một không ạ ?

3. Sau khi tách hoặc chia doanh nghiệp thì doanh nghiệp được tách, doanh nghiệp sau khi chia thì ai là người sở hữu ạ

4. Tổ chức xã hội - nghề nghiệp có thuộc đối tượng cấm góp vốn kinh doanh không ạ?

5. Trong thành lập doanh nghiệp thì một tổ chức tương đương với một thành viên công ty đúng không ạ ?

6. Trong giải quyết tố tụng bằng trọng tài, thì nếu tranh chấp xảy ra ở Việt Nam nhưng hai bên lại lựa chọn  tổ chức trọng tài ở nước ngoài thì có được không ạ?

7. Chế độ công ty là gì ạ ( ví dụ chế độ công ty TNHH)?

8. Điều kiện để được xem là tranh chấp có yếu tố nước ngoài là gì ạ?

9.  Trong Hợp đồng dân sự và Hợp đồng thương mại nếu hai bên không thỏa thuận có bồi thường thiệt hại thì khi xảy ra thiệt hại thực tế thì bên bị thiệt hại có được quyền đòi bồi thường thiệt hại không ạ?

10. Trong hợp đồng thì hai bên có được phép ghi thỏa thuận tòa án sẽ giải quyết tranh chấp không ạ?

Người gửi: Nguyễn Sơn

>> Luật sư tư vấn pháp luật doanh nghiep qua tổng đài điện thoại: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thư về cho chuyên mục của chúng tôi. Những câu hỏi của bạn đưa ra, chúng tôi xin trả lời một cách ngắn gọn như sau:

1/  Doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh có được hợp nhất và sáp nhập không:

Khoản 1 điều 152 Luật Doanh nghiệp quy định “Hai hoặc một số công ty cùng loại có thể hợp nhất thành một công ty mới bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất”.

Khoản 1 điều 153 Luật Doanh nghiệp quy định “Một hoặc một số công ty cùng loại có thể sáp nhập vào một công ty khác bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập”.

Do vậy, DN tư nhân và Công ty hợp danh không thể hợp nhất hoặc sát nhập được. Tuy nhiên, trong một số trường hợp vẫn có thể hợp nhất hoặc sát nhập được thông qua bước trung gian, trừ công ty hợp danh vì loại hình công ty này không chuyển đổi được.

2/ Tách chi nhánh và tách doanh nghiệp có phải là một không:

Chỉ có thành lập chi nhánh, không có tách chi nhánh.

Tách doanh nghiệp là việc công ty (DN) có thể tách bằng cách chuyển một phần tài sản của công ty hiện có (sau đây gọi là công ty bị tách) để thành lập một hoặc một số Công ty mới cùng loại (sau đây gọi là Công ty được tách); chuyển một phần quyền và nghĩa vụ của công ty bị tách sang công ty được tách mà không chấm dứt tồn tại của công ty bị tách.

Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp, kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền. Ngành, nghề kinh doanh của chi nhánh phải phù hợp với ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp. Chi nhánh có quyền ký các hợp đồng kinh tế nhân danh chi nhánh, đóng dấu chi nhánh. 

3/ Sau khi tách hoặc chia doanh nghiệp thì doanh nghiệp được tách, doanh nghiệp sau khi chia thì ai là người sở hữu:

Việc tách doanh nghiệp chỉ áp dụng đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.

Trường hợp tách công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, thì thành viên của công ty bị tách và công ty được tách được xử lý theo một trong các cách sau đây : 

 a) Công ty bị tách trở thành chủ sở hữu của công ty được tách; 

 b) Tất cả thành viên của công ty bị tách đều là thành viên của công ty được tách; 

 c) Các thành viên của công ty bị tách chia thành các nhóm tương ứng làm thành viên của các công ty trách nhiệm hữu hạn sau khi tách công ty. Trong trường hợp này, quyết định về phương án chia các thành viên thành các nhóm tương ứng làm thành viên của các công ty sau khi tách phải được tất cả các thành viên chấp thuận.

Trường hợp tách công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thì chủ sở hữu công ty bị tách đồng thời là chủ sở hữu của công ty được tách, hoặc công ty bị tách làm chủ sởhữu của công ty được tách. 

Trường hợp tách công ty cổ phần, cổ đông của công ty bị tách và công ty được tách được xử lý theo một trong các cách sau đây : 

 a) Tất cả các cổ đông của công ty bị tách đều là cổ đông của công ty mới được tách; 

 b) Các cổ đông của công ty bị tách được chia thành từng nhóm tương ứng làm cổ đông của công ty bị tách và công ty được tách. Việc chia các cổ đông của công ty bị tách thành cổ đông của các công ty sau khi tách phải được số cổ đông đại diện cho ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp Đại hội đồng cổ đông chấp thuận, nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác cao hơn. Cổ đông phản đối phương án đã quyết định về chia cổ đông thành các nhóm tương ứng có quyền yêu cầu công ty bị tách mua lại cổ phần của mình trước khi thực hiện tách công ty.

4/ Tổ chức xã hội - nghề nghiệp có thuộc đối tượng cấm góp vốn kinh doanh không:

Tổ chức, cá nhân có quyền mua cổ phần của công ty cổ phần, góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật Doanh nghiệp, trừ các đối tượng sau:
a. Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
b. Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức 
(Điều 17-Pháp lệnh số 11/2003/PL-UBTVQH11 ngày 29/4/2003 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức, thì cán bộ, công chức  gồm những đối tượng sau đây:
a)      Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);
b)      Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
c)       Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
d)      Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
đ)   Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân;
e)   Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp;
g)   Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã);
h)      Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã. )
Như vậy, chỉ có những đối tượng trên mới bị cấm góp vốn vào doanh nghiệp, còn lại tất cả đều có quyền được góp vốn.

5/ Trong thành lập doanh nghiệp thì một tổ chức tương đương với một thành viên công ty đúng không:
Đúng. Trong trường hợp phần góp vốn khi thành lập doanh nghiệp có cả phần của một công ty hay một tổ chức bất kì thì tổ chức/ công ty đó có tư cách tương đương với một thành viên trong công ty.

6/ Trong giải quyết tố tụng bằng trọng tài, thì nếu tranh chấp xảy ra ở Việt Nam nhưng hai bên lại lựa chọn tổ chức trọng tài ở nước ngoài thì có được không:

 Trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật trọng tài do các bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành giải quyết tranh chấp ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam. Do vậy, tùy theo thỏa thuận của các bên, có thể lựa chọn bất cứ tổ chức trọng tài nào có lợi cho các bên.

7/  Chế độ công ty là gì ( ví dụ chế độ công ty TNHH):

Chế độ công ty được coi như là chế độ đãi ngộ đối với nhân viên trong công ty, tùy từng công ty mà có những chế độ khác nhau. Các chế đó bao gồm: 

- Chế độ đào tạo: Một số công ty có chế độ này đối với nhân viên ( nhân viên mới: đào tạo các khóa ngắn hạn, kỹ năng làm việc, chuyên môn,....; nhân viên đã và đang làm việc: đào tạo nghiệp vụ nhằm nâng cao hiệu quả công việc,...)

- Chế độ lương, thưởng cạnh tranh: Trả lương theo năng lực, xét tăng lương, thưởng cho những sáng kiến tốt, cải tiến trong công việc, thưởng dịp tết,...

- Chế độ phụ cấp: ngoài chế độ lương cạnh tranh, nhân viên còn có thể được hưởng chế độ phụ cấp như: Phụ cấp ăn trưa, phụ cấp xăng xe

- Chế độ nghỉ phép: có thể theo quy định của pháp luật hoặc tuân theo điều lệ của công ty.

- Chế độ phúc lợi: BHXH, BHYT, BHTN; thăm hỏi trực tiếp khi hiếu, hỷ; quà sinh nhật; thưởng trong các dịp Lễ, Tết; nghỉ mát hàng năm; cơ hội phát triển nghề nghiệp.

- Cơ hội phát triển nghề nghiệp.

8/ Điều kiện để được xem là tranh chấp có yếu tố nước ngoài là gì:

Hiện nay, luật pháp Việt Nam chưa phân định rõ thế nào mới được coi là tranh chấp có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, theo một số ý kiến cho rằng về lâu dài TAND tối cao nên hướng dẫn cụ thể theo hướng lấy tiêu chí là “quốc tịch” để phân định (nghĩa là doanh nghiệp có quốc tịch nước ngoài thì khi tranh chấp mới bị coi là vụ án có yếu tố nước ngoài). Việc xác định căn cứ theo quốc tịch là hợp lý vì điều này còn liên quan đến vấn đề uỷ thác điều tra và hợp thức hoá lãnh sự.

9/  Trong Hợp đồng dân sự và Hợp đồng thương mại nếu hai bên không thỏa thuận có bồi thường thiệt hại thì khi xảy ra thiệt hại thực tế thì bên bị thiệt hại có được quyền đòi bồi thường thiệt hại không:

Khoản 3 Điều 422 Bộ Luât dân sự có quy định: "Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm."  Như vậy có nghĩa là khi xảy ra thiệt hại, bên gây ra thiệt hại chỉ phải nộp tiền vi phạm hợp đồng chứ không phải bồi thường thiệt hại

10/ Trong hợp đồng thì hai bên có được phép ghi thỏa thuận tòa án sẽ giải quyết tranh chấp không

Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011, Điều 36 quy định về thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu, như sau:

1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;

b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;

c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;

d) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;

đ) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;

e) Nếu tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi người sử dụng lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú, làm việc giải quyết;

g) Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;

h) Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;

i) Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi có một trong các bất động sản giải quyết.

Như vậy, hai bên có thể thỏa thuận với nhau trong hợp đồng về việc Tòa án sẽ giải quyết tranh chấp nếu thuộc một trong những trường hợp trên.

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho công ty chúng tôi.

 

Ý kiến bổ sung thứ hai:

 

1. Công ty hợp danh không được sáp nhập với doanh nghiệp tư nhân.

Theo quy định tại  Điều 153, Luật doanh nghiệp 2005 về Sáp nhập doanh nghiệp

“Một hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.”

Như vậy, doanh nghiệp tư nhân không phải là hình thức công ty và doanh nghiệp tư nhân không cùng loại với công ty hợp danh. Vậy doanh nghiệp tư nhân không thể sáp nhập với công ty hợp danh.

2. Tách chi nhánh và tách doanh nghiệp không phải là một nhưng bản chất thì giống nhau bởi đều hình thành công ty mới có tài sản độc lập.

Trước hết tách doanh nghiệp được quy định tại Điều 151 Luật doanh nghiệp 2005 như sau:

“Điều 151. Tách doanh nghiệp

1. Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có thể tách bằng cách chuyển một phần tài sản của công ty hiện có (sau đây gọi là công ty bị tách) để thành lập một hoặc một số công ty mới cùng loại (sau đây gọi là công ty được tách); chuyển một phần quyền và nghĩa vụ của công ty bị tách sang công ty được tách mà không chấm dứt tồn tại của công ty bị tách.”

Như vậy, ta có thể hiểu tách doanh nghiệp là hình thức thực hiện một công ty mới cùng loại.

Còn chi nhánh là sự mở rộng quy mô của công ty. Chi nhánh được tách thành công ty mới sẽ hoạt động  hoàn toàn độc lập.

3. Chủ sở hữu công ty được tách, chia.

Theo quy định tại điểm b khoản 2, Điều 151 Luật doanh nghiệp 2005 thì : “b) Các thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc các cổ đông của công ty được tách thông qua Điều lệ, bầu hoặc bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và tiến hành đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật này. Trong trường hợp này, hồ sơ đăng ký kinh doanh phải kèm theo quyết định tách công ty quy định tại điểm a khoản này.”

Như vậy, sau khi được tách hoặc chia thì người chủ sở hữu chính là người được bầu hoặc bổ nhiệm bởi các thành viên của công ty, chủ sở hữu công ty hoặc các cổ đông của công ty.

4. Tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp trong doanh nghiệp được pháp luật doanh nghiệp quy định tại điều 6 Luật doanh nghiệp 2005: Điều 6. Tổ chức chính trị và tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp

1. Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật và theo Điều lệ của tổ chức mình phù hợp với quy định của pháp luật.

2. Doanh nghiệp có nghĩa vụ tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi để người lao động thành lập và tham gia hoạt động trong các tổ chức quy định tại khoản 1 Điều này.”

Như vậy, tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp có thể góp vốn vào doanh nghiệp trừ những trường hợp được pháp luật quy định tại khoản 4 điều 13 Luật doanh nghiệp 2005

“a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

b) Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.”

5. Theo như câu hỏi bạn đặt ra, một tổ chức tướng ứng với một thành viên công ty. Theo quy định tại pháp luật doanh nghiệp thì thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn, cổ phần có thể là tổ chức, cá nhân. Chính vì vậy theo như câu hỏi bạn đặt ra, nếu tổ chức đó tham gia góp vốn, thành lập công ty thì tổ chức đó cũng là thành viên của công ty.

6. Trong giải quyết tố tụng bằng trọng tài, nếu tranh chấp xảy ra ở Việt Nam, các bên có thể thỏa thuận sử dụng trọng tài nước ngoài. Theo quy định tại Điều 11 và 12 Luật trọng tài thương mại thì:

“11. Trọng tài nước ngoài là Trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành giải quyết tranh chấp ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam.

12. Phán quyết của trọng tài nước ngoài là phán quyết do Trọng tài nước ngoài tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc ở trong lãnh thổ Việt Nam để giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận lựa chọn.”

7. Điều kiện để được xem là tranh chấp có yếu tố nước ngoài:

Tranh chấp có yếu tố nước ngoài là tranh chấp xảy ra khi một trong các bên chủ thế là người nước ngoài hoặc tranh chấp đó xảy ra ở nước ngoài.

8.Chế độ của công ty như bạn hỏi chúng tôi không thể xác định được ý của bạn. Chế độ công ty có thể là chế độ chịu trách nhiệm của công ty, chế độ tài chính của công ty.

9. Trong hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại, nếu trong hợp đồng không có điều khoản quy định về bồi thường thiệt hại, thì khi có thiệt hại xảy ra, các bên vẫn có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Căn cứ vào điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại Điều 604, Bộ Luật dân sự: “Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại  

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.”

10. Trong hợp đồng, hai bên được phép ghi thỏa thuận Tòa án sẽ giải quyết nếu có tranh chấp. Bởi mọi điều khoản trong hợp đồng là do sự thỏa thuận của các bên, và không trái với quy định của pháp luật.

Chúc bạn vui và nhiều sức khỏe

Thân ái,

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ

----------------------------------------------

THAM KHẢO VÀ DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN: