>> Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162
Luật sư tư vấn:
Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho Luật Minh Khuê. Đối với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin hỗ trợ trả lời như sau:
1. Nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em
Theo khoản 2 Điều 36 và Điều 37 Hiến pháp năm 2013 có quy định về vấn đề bảo vệ bà mẹ và trẻ em như sau:
+ Nhà nước bảo hộ hôn nhân và đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.
+ Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em.
Ngoài ra, nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em cũng đã được triển khai trong một số văn bản quy phạm pháp luật, có thể kể đến:
* Trong Bộ luật Lao động năm 2019 có quy định rằng:
+ Chính sách của Nhà nước:
Nhà nước có kế hoạch, biện pháp tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao động; mở rộng nhiều loại hình đào tạo thuận lợi cho lao động nữ có thêm nghề dự phòng và phù hợp với đặc điểm về cơ thể, sinh lý và chức năng làm mẹ của phụ nữ.
Tại Điều 136 Bộ luật Lao động năm 2019, một trong những trách nhiệm của người sử dụng lao động là: (1) tham khảo ý kiến của lao động nữ hoặc đại diện của họ khi quyết định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của phụ nữ; (2) giúp đỡ, hỗ trợ xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo cho người lao động.
+ Quy định về bảo vệ thai sản:
Thứ nhất, người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa: (1) mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và (2) đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi (trừ trường hợp người lao động đồng ý).
Thứ hai, lao động nữ làm nghề, công việc năng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con khi mang thai và có thông báo cho người sử dụng lao động biệt. Người sử dụng lao động sẽ có những phương án cho lao động nữ như: chuyển sang làm công việc nhẹ hơn, an toàn hơn hoặc giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà không bị cắt giảm tiền lương và quyền, lợi ích hợp pháp cho đến hết thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Do đó, phương án như vậy phần nào đảm bảo được sức khỏe của thai sản, của thai nhi cũng như bảo đảm thu nhập của họ.
Thứ ba, người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.
Trường hợp hợp đồng lao động hết hạn thời gian lao động nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới.
Thứ tư, lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút, trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.
+ Quy định bảo vệ trẻ em:
Căn cứ vào Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 thì trẻ em là người dưới 16 tuổi. Bộ luật Lao động năm 2019 đã dành một chương để quy định đối với lao động chưa thành niên (chương XI). Còn lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi. Do đó, có thể hiểu rằng độ tuổi lao động chưa thành niên bao gồm có độ tuổi của trẻ em nên trẻ em cũng là một trong những đối tượng lao động được quy định trong pháp luật về lao động.
Thứ nhất, nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên được quy định như sau: (1) chỉ được làm công việc phù hợp với sức khỏe để bảo đảm sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách; (2) người sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc về mặt lao động, sức khỏe, học tập trong quá trình lao động; (3) phải có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ; lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày tháng năm sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khỏe định kỳ và xuất trình khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu và (4) tạo cơ hội cho người lao động chưa thành niên được học văn hóa, giáo dục nghề nghiệp, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề.
Thứ hai, khi sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc thì cần đảm bảo: phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản (với người lao động và người đại diện theo pháp luật của người đó); bố trí giờ làm việc không ảnh hưởng đến thời gian học tập; phải có giấy khám sức khỏe có xác nhận sức khỏe của người chưa đủ 15 tuổi phù hợp với công việc và tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ ít nhất một lần trong 06 tháng và bảo đảm điều kiện làm việc an toàn và vệ sinh....
* Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thực hiện nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em:
Tại khoản 4 Điều 2 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014, Nhà nước có đưa ra nguyên tắc:
(1) Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức nâng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình;
(2) Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và không phân biệt đối xử giữa các con;....
Để bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và giúp bé phát triển một cách toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần thì không nên phân biệt đối xử, tập trung dành những lợi ích về một phía đứa trẻ. Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nghĩa vụ của cha mẹ như sau:
+ Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con
+ Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên.
+ Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên,....
* Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định một số điều khoản:
Thứ nhất, phụ nữ có thai thực hiện hành vi phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự thì:
+ Khi người bị phạt cải tạo giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ (thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần). Tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi.
+ Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử và không thi hành án tử hình đối với người bị kết án là phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.
+ Người phạm tội là phụ nữ có thai là một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
+ Được hoãn chấp hành hình phạt tù khi thuộc trường hợp là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi.
2. Thủ tục ly hôn khi mục đích hôn nhân không đạt được?
Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền xin ly hôn khi mà mục đích của hôn nhân không đạt được.
Khi ly hôn thì cần chuẩn bị những loại giấy tờ, tài liệu sau:
+ Đơn xin ly hôn (Đơn công nhận thuận tình ly hôn, đơn khởi kiện dành cho ly hôn đơn phương)
+ Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của vợ chồng
+ Bản sao có chứng thực chứng minh nhân dân/ căn cước công dân/ hộ chiếu của hai vợ chồng
+ Bản sao có chứng thực sổ hộ khẩu của vợ, chồng hoặc giấy xác nhận cư trú của vợ chồng
+ Bản sao có chứng thực về giấy khai sinh của các con
+ Giấy tờ về tài sản, giấy tờ về khoản nợ
Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ nộp lên Tòa án nhân dân
Bước 2: Nộp hồ sơ tại Tòa án nhân dân cấp huyện
Nếu ly hôn thuận tình thì nộp hồ sơ tại nơi cư trú của vợ hoặc hoặc của chồng đều được. Trường hợp ly hôn đơn phương thì người vợ hoặc người chồng muốn ly hôn đơn phương với người kia sẽ phải nộp hồ sơ tại Tòa án nhân dân cấp huyên nơi người chồng hoặc người vợ đang cư trú.
Bước 3: Tòa án nhân dân thông báo thụ lý đơn và nộp tiền án phí
Tòa án nhân dân tiến hành nhận đơn do đương sự nộp trực tiếp tại Tòa án nhân dân hoặc gửi qua đường bưu điện và được ghi nhận trong sổ nhận đơn. Với thời hạn 05 ngày làm việc từ ngày nhận đơn thì Tòa án nhân dân sẽ phải xem xét và ra một trong các quyết định: (1) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết; (2) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khác; (3) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Khi có thông báo thụ lý hồ sơ thì đương sự sẽ phải nộp tiền tạm ứng án phí (quy định tại Nghị quyết 325/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án). Khi nhận được thông báo đóng án phí của Tòa án thì sẽ đến nộp tiền tại Chi cục thi hành án dân sự cấp huyện.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc từ ngày thụ lý đơn thì Tòa án sẽ thông báo cho người có quyền và nghĩa vụ liên quan cũng như Viện kiểm sát cùng cấp về việc đã thụ lý vụ việc theo đơn yêu cầu.
Bước 4: Tòa án tiền các buổi hòa giải
Khi đã có quyết định mở phiên họp thì Tòa án phải mở phiên họp để hòa giải trong thời hạn 15 ngày.
Bước 5: Mở phiên tòa giải quyết yêu cầu ly hôn
Trường hợp hòa giải không thành thì Tòa án sẽ mở phiên tòa giải quyết yêu cầu ly hôn trong thời hạn 07 ngày từ ngày hòa giải không thành và các bên không thay đổi quyết định về việc ly hôn.
Như vậy, căn cứ vào các bước thủ tục trên thì việc làm đơn "Bảo vệ bà mẹ và trẻ em" gửi cho chi hội phụ nữ là không bắt buộc. Vì vậy, bạn không cần thiết phải có đơn này trong hồ sơ ly hôn của mình. Nếu vẫn muốn viết đơn này thì bạn có thể làm đơn theo mẫu đơn tường trình thông thường. Do đó, bạn trình bày yêu cầu, nguyện vọng của bản thân mà bạn đang muốn được chi hội giúp đỡ và bảo vệ.
Nếu bạn đọc có bất kỳ vướng mắc nào liên quan đến vấn đề này hay vấn đề pháp lý khác thì vui lòng liên hệ tới bộ phận tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của Luật Minh Khuê theo số 1900.6162 để được hỗ trợ kịp thời. Xin chân thành cảm ơn!.