1. Chấm dứt quan hệ hôn nhân thực tế?

Thưa luật sư, Xin Luật sư cho tôi hỏi đối với quan hệ hôn nhân được coi là hôn nhân thực tế, khi hai vợ chồng muốn chấm dứt quan hệ đó thì có thể nộp đơn đến Tòa án cấp nào để xin không công nhận quan hệ hôn nhân đó, và giải quyết vấn đề tài sản chung của 2 vợ chồng?

>> Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.616

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Liên quan đến câu hỏi của bạn, chúng tôi xin trả lời như sau:

Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về hôn nhân thực tế. Tuy nhiên, theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao thì hôn nhân thực tế phải đáp ứng được cả hai điều kiện về hình thức và nội dung.

+ Về hình thức: Hai bên chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 mà không đăng ký kết hôn.

+ Về nội dung: Hai bên nam, nữ phải tuân thủ đầy đủ điều kiện kết hôn theo quy định củaLuật Hôn nhân gia đình năm 2014(trừ những trường hợp cán bộ miền nam tập kết ra Bắc trước giải phóng theo thông tư số 60 ngày 22.2.1978 của Tòa án nhân dân tối cao có hướng dẫn: người chồng và hai người vợ có thể thoả thuận chung sống ổn thỏa, tức là toà án không phải huỷ hôn nhân lần thứ hai. Sẽ tiến hành huỷ hôn nhân trong trường hợp có yêu cầu của một hoặc cả hai người vợ (giải quyết theo yêu cầu của vợ).

Như vậy, hôn nhân thực tế dù không đăng ký kết hôn nhưng vẫn được pháp luật công nhận. Chính vì thế mà việc ly hôn của những hôn nhân thực tế sẽ được giải quyết như vụ việc ly hôn có đăng ký kết hôn bình thường.

* Hồ sơ ly hôn bao gồm:

+ Đơn xin ly hôn;

+ Giấy xác nhận của địa phương về quá trình chung sống của 2 người;

+ Chứng minh nhân dân của vợ, chồng;

+ Giấy khai sinh của con chung (bản sao có công chứng);

+ Giấy tờ chứng nhận về quyền sở hữu tài sản (trong trường hợp vợ chồng có yêu cầu tòa án chia tài sản chung của vợ chồng).

* Thẩm quyền giải quyết ly hôn:

Hai bên có quyền thỏa thuận, lựa chọn nộp đơn kiện tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết: TAND quận (huyện) nơi cả 2 bên hoặc một trong các bên có hộ khẩu thường trú, tạm trú; nếu 2 bên có hộ khẩu thường trú ở 2 nơi khác nhau thì đơn kiện sẽ nộp tại TAND quận (huyện) nơi bị đơn có hộ khẩu thường trú, tạm trú (điểm a khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự) giải quyết.

-Việc giải quyết vấn đề chia tài sản giữa hai vợ chồng khi ly hôn.

Vì đây là hôn nhân hợp pháp nên mọi thủ tục về ly hôn, chia tài sản giữa hai vợ chồng được tiến hành theo quy định tại luật Điều 59 Luật hôn nhân gia đình 2014 về nguyên tắc giải quyết tài sản khi vợ chồng ly hôn.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Hướng dẫn thủ tục ly hôn đơn phương?

Vợ chồng chị V. (quận 2, TP.HCM) xảy ra mâu thuẫn trầm trọng nên người chồng bỏ nhà ra đi. Thấy đã cạn nghĩa, chị V. nộp đơn đến TAND quận 2 để xin ly hôn. Phía bị đơn không có nơi cư trú cố định hay cố tình lẩn tránh thì nguyên đơn chỉ biết khóc ròng vì ly hôn không được mà vợ chồng cũng chẳng xong.

Khốn khổ vì cái địa chỉ

Tuy nhiên, tòa đã trả lại đơn vì không biết anh chồng hiện đang ở đâu. Dõi theo chân chồng, chị V. cứ chạy hết tòa này đến tòa khác rồi đành phải lủi thủi vác đơn về vì cứ vài ba tháng anh chồng tạm trú ở nơi quận này, vài ba tháng sau anh lại xin tạm trú nơi khác. Năm năm nay chị V. vẫn chưa thể ly hôn bởi anh chồng thay đổi xoành xoạch chỗ ở.

Tương tự, chị M. (quận Bình Thạnh, TP.HCM) cũng không thể dứt khoát được với chồng. Vợ chồng chị kết hôn nhưng được hơn hai năm anh chồng đã dọn đi chỗ khác. Chị gửi đơn xin ly hôn đến TAND quận Bình Thạnh và cho tòa biết rõ ràng nơi chồng đang ở. Tòa đi xác minh thì người chồng đã chuyển đi chỗ khác. Gọi điện thoại cho chồng đến tòa để làm thủ tục thì chồng trả lời “Muốn làm gì thì làm” nhưng nhất quyết giấu biệt nơi ở. Vì thế, vụ án ly hôn của chị bị tòa đình chỉ vì không có cơ sở thụ lý.

Trường hợp chị E. ở quận 12 (TP.HCM) cũng vậy. Vì mâu thuẫn gia đình, người chồng cũng đã bỏ đi. Sau đó, chị E. có người yêu mới và muốn ly hôn với chồng cũ nhưng nhiều năm nay vẫn chưa được tòa thụ lý vụ án. Nguyên do cũng bởi anh chồng nay đây mai đó nên chị không biết hiện chồng đang ở đâu. Chị về nơi chồng đăng ký thường trú để xin ly hôn nhưng tòa cũng không thụ lý vì lúc này người chồng vừa đi lao động ở nước ngoài… Còn gia đình chồng cũng không cung cấp địa chỉ cho chị.

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình trực tuyến

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162

Lách luật cầu may?

Theo quy định, tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn là tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc. Nơi cư trú của cá nhân là nơi cá nhân thường xuyên sinh sống hoặc đang sinh sống. Do vậy, để được tòa án thụ lý giải quyết vụ án, bên nguyên đơn chứng minh được nơi bị đơn thường xuyên sinh sống hoặc đang sinh sống, hoặc nơi người này làm việc. Nếu thấy bị đơn thay đổi địa chỉ, không còn cư trú hoặc làm việc tại địa phương nữa mà thực tế đang cư trú hoặc làm việc tại địa phương khác, tòa án đang thụ lý sẽ chuyển vụ án cho tòa án nơi bị đơn đang cư trú hoặc làm việc để tiếp tục giải quyết vụ kiện.

Nhiều thẩm phán xét xử dân sự thừa nhận những vụ án ly hôn rất khó giải quyết nếu người chồng hoặc vợ (bên bị đơn) cố tình thay đổi chỗ ở. Nhiều chuyên gia cho rằng có thể linh hoạt áp dụng cho bên nguyên đơn chỉ cần chứng minh nơi bị đơn làm việc là đủ. Sau đó, tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt thì tòa án lập biên bản và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt phía này. Tuy nhiên, các chuyên gia cũng nhận định đây chỉ là giải pháp đối phó chứ không phải cho mọi trường hợp. Bởi nếu họ thường xuyên thay đổi nơi làm việc hay không có chỗ làm nhất định thì cũng như không.

Cũng có ý kiến cho rằng trong trường hợp bất đắc dĩ có thể tuyên bố người kia mất tích khi người đó biệt tích hai năm liền trở lên (mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định). Khi đó, vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì tòa án giải quyết cho ly hôn. Mặc dù vậy, các chuyên gia cho rằng đây cũng chỉ là biện pháp đối phó và con đường để tuyên bố một người mất tích là khá tốn kém và thời gian kéo dài.

Khó ly hôn vì chồng ở… lung tung

Chị T. đã gửi đơn ra TAND huyện Sông Hinh (Phú Yên) xin được ly hôn. Tuy nhiên, tòa này đã phải chuyển tới chuyển lui vụ án của chị. Đi xác minh, tòa huyện thấy vợ chồng chị T. có hộ khẩu ở huyện nhưng đã bán nhà đi khỏi địa phương nên trả lại đơn. Chị vội cung cấp địa chỉ tạm trú của vợ chồng tại TP Tuy Hòa (Phú Yên). Tuy nhiên, TAND huyện Sông Hinh vẫn không nhận thụ lý vì không thuộc thẩm quyền lãnh thổ. Chị T. lại tiếp tục gửi đơn đến TAND huyện Sông Hinh đề nghị giải quyết ly hôn vì cho rằng vợ chồng chị vẫn đang đăng ký hộ khẩu tại huyện. Tòa án huyện lại tiếp tục xác minh và thấy đúng là vợ chồng chị T. có hộ khẩu ở đây thật nên thụ lý giải quyết.

Sau đó, biết tin anh chồng đang sống với người khác ở huyện Tây Hòa, TAND huyện Sông Hinh đã chuyển đơn của chị T. đến tòa huyện này. Thế nhưng TAND huyện Tây Hòa đã trả lại đơn cho TAND huyện Sông Hinh vì anh T. không có hộ khẩu ở huyện.

Mới đây, chị T. lại báo cho TAND huyện Sông Hinh biết anh chồng đã dạt qua huyện Đông Hòa sinh sống. Tòa này lại vội chuyển hồ sơ của chị T. đến TAND huyện Đông Hòa. Hiện nay, TAND huyện Đông Hòa đang xem xét việc tiếp nhận hồ sơ.

“Nhiều năm nay anh chồng luôn cố tình lẩn tránh làm việc với tòa án. Mỗi khi tòa án tìm đến nơi người chồng đang cư trú để giải quyết, anh này thường bất hợp tác” – bà Lương Thị Đông, thẩm phán TAND huyện Sông Hinh, người trực tiếp thụ lý vụ án trên cho biết.

Nơi cư trú nên là nơi có hộ khẩu

Trong thực tế, nơi cư trú của bị đơn được một số tòa án hiểu là nơi bị đơn thường xuyên sinh sống hoặc đang sinh sống vì vậy nếu bị đơn cư trú không ổn định thì tòa án phải chuyển vụ án vòng vòng thậm chí rơi vào bế tắc, tòa đình chỉ vụ án. Theo tôi, luật quy định nơi cư trú của bị đơn nên hiểu là nơi bị đơn đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc nơi bị đơn thường xuyên sinh sống vì nếu hiểu nơi cư trú là nơi đang sinh sống thì pháp luật sẽ bị lợi dụng. Bị đơn trong các vụ án ly hôn nếu không muốn hợp tác sẽ rất dễ dàng đối phó bằng cách di chuyển chỗ ở liên tục.

Với những trường hợp bị đơn có hộ khẩu thường trú nhưng không thường xuyên sinh sống tại địa phương này mà đến sinh sống tại một nơi khác thì nguyên đơn được quyền chọn lựa tòa án để khởi kiện là nơi đăng ký thường trú của bị đơn hoặc là nơi bị đơn thường xuyên sinh sống. Khi tòa án thụ lý và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn di chuyển chỗ ở thì tòa án yêu cầu nguyên đơn bổ sung thủ tục thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú để giải quyết vụ án theo quy định, chứ không chuyển vụ án theo đuôi bị đơn như hiện nay sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn.

Luật gia ĐẶNG ĐÌNH THỊNH, Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật – Hội Luật gia Việt Nam

Đã tìm nhưng vẫn vắng mặt là xử được

Theo tôi, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao cần thiết phải ra nghị quyết để hướng dẫn giải quyết các trường hợp tương tự nêu trên theo hướng gần giống như quy định về việc tuyên bố một người mất tích. Cụ thể là sau khi đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng người chồng hoặc vợ vẫn cố tình vắng mặt thì tòa án lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được do bị đơn vắng mặt và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Luật sư Nguyễn Minh Luận, Đoàn Luật sư TP.HCM

MINH KHUE LAW FIRM sưu tầm

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Vấn đề ly hôn, xác định con và thỏa thuận chia tài sản?

Vấn đề ly hôn, xác định con và thỏa thuận chia tài sản

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Chào các anh chị tư vấn của Luật Minh Khuê. Em có một câu hỏi muốn nhờ anh chị giải đáp giùm Em ạ: Bố mẹ em đã có quyết định ly hôn của tòa án nhưng chưa thỏa thuận chia tài sản được. Bố mẹ em ly hôn cũng do bố Em cứ một mực khẳng định chị gái em không phải con đẻ của bố rồi về nhà cứ uống rượu la mắng. Nay bố mẹ em cùng làm 01 giấy cam kết là sẽ đi xét nghiệm ADN của bố và chị gái em. Nếu trường hợp là bố đẻ thì bố sẽ để lại toàn bộ tài sản cho mẹ con em, còn ngược lại thì mẹ con em sẽ để lại toàn bộ tài sản cho bố. Mẹ em có ra tòa án Huyện để hỏi về việc nhờ pháp luật xử lý tình huống này nhưng tòa nói là tòa ko xử lí được. Vậy em xin hỏi trường hợp này thì bản cam kết như thế nào mới được pháp luật công nhận ạ. Và mình phải làm như thế nào để nhờ pháp luật đứng ra giám định ADN ạ?

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Căn cứ Điều 89 luật hôn nhân gia đình 2014

Điều 89. Xác định con

1. Người không được nhận là cha, mẹ, của một ngời có quyền yêu cầu Tòa án xác định đó là con mình.

2. Người được nhận là cha, mẹ của một người có quyền yêu cầu tòa án xác định đó không phải là con mình.

Khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 27. Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án

1. Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.

2. Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

3. Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

4. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.

5. Tranh chấp về cấp dưỡng.

6. Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định."

Căn cứ vào các quy định trên, trong trường hợp này bố, mẹ bạn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về xác định con cho mình.

4. Chia tài sản chung là đất đai khi ly hôn?

Câu hỏi: Vợ chồng tôi có 1 con 10 tuổi. Chúng tôi tự mua được nhà và hiện tại hợp đồng mua bán nhà đứng tên chồng tôi. Gần đây tôi phát hiện chồng ngoại tình và có con riêng. Tôi cũng đã thỏa thuận với chồng sẽ để lại toàn bộ căn nhà cho 2 mẹ con tôi và anh đồng ý. Vậy để đảm bảo quyền lợi cho con về sở hữu hoàn toàn căn nhà trên một cách hợp pháp, tránh tranh chấp thừa kế với con ngoài giá thú sau này, tôi cần phải làm những thủ tục giấy tờ gì? Xin nhờ Luật sư tư vấn. Trân trọng cảm ơn.

Căn cứ Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

"Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này."

Căn cứ Điều 84 Nghị định 43/2014/NĐ-CP: của Chính phủ hướng dẫn thi hành luật đất đai 2013:

"Điều 84. Trình tự, thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất trong các trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai; xử lý hợp đồng thế chấp, góp vốn; kê biên bán đấu giá quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất để thi hành án; chia, tách, hợp nhất, sáp nhập tổ chức, chuyển đổi công ty; thỏa thuận hợp nhất hoặc phân chia quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình, của vợ và chồng, nhóm người sử dụng đất

1. Người chịu trách nhiệm nộp hồ sơ được quy định như sau:

a) Người nhận quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất nộp hồ sơ đối với trường hợp nhận quyền sử dụng đất theo kết quả giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai; xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo thỏa thuận; quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án đã được thi hành; kết quả đấu giá quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; chia tách hộ gia đình, nhóm người sử dụng đất;

b) Tổ chức đã thực hiện việc xử lý quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất nộp hồ sơ thay người nhận quyền sử dụng đất đối với trường hợp xử lý hợp đồng thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất không theo thỏa thuận; kê biên bán đấu giá quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất để thi hành án theo quy định của pháp luật.

2. Việc nộp hồ sơ đăng ký nhận quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thực hiện theo quy định tại Điều 60 và Điều 79 của Nghị định này.

3. Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu phù hợp quy định của pháp luật thì thực hiện các công việc sau đây:

a) Trích đo địa chính thửa đất đối với trường hợp chưa có bản đồ địa chính, chưa trích đo địa chính thửa đất hoặc nhận quyền sử dụng một phần thửa đất đã cấp Giấy chứng nhận;

b) Gửi thông tin địa chính đến cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính đối với trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định và thông báo thu nghĩa vụ tài chính;

c) Xác nhận vào Giấy chứng nhận đã cấp; trường hợp phải cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định thì lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nếu có nhu cầu;

d) Cập nhật, chỉnh lý biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người được cấp hoặc gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để trao đối với trường hợp nộp hồ sơ tại cấp xã."

Như vậy vợ chồng bạn làm thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Thỏa thuận này được lập bằng văn bản.Sau đó dựa trên văn bản này thực hiện thủ tục đăng ký biến động về tại cơ quan có thẩm quyền theo thủ tục tại Điều 84 Nghị định 43/2014/NĐ-CP.

Trân trọng.

5. Đánh ghen gây thương tích thì chịu xử phạt như thế nào?

Câu hỏi: Chồng em đi ngoại tình em biết và đã gặp trực tiếp chị kia nhiều lần để nói chuyện chấm dứt với chồng em, nhưng chị ấy không nghe mà còn cố tình quen và đi ngủ với chồng em. Em biết chuyện tức giận tới nhà để nói chuyện nhưng không giữ được bình tĩnh lấy kéo bấm móng tay trong chùm chìa khoá rạch mặt chị đó nhưng chỉ bị trầy nhẹ. do chị đó đang bồng con nên quơ trúng đứa bé bị rách tay khâu 3 mũi. Vậy cho em hỏi trương hợp em sẽ chịu trách nhiệm sao ạ ?

Trả lời:

Với trường hợp của bạn thì cần phải xác minh một cách toàn diện các tình tiết của vụ án, nhân thân người phạm tội, quá trình diễn biến của sự việc, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, hoạt động xã hội, điều kiện sống, tính tình, bệnh tật, hoàn cảnh gia đình, quan hệ giữa người phạm tội với người bị hại.v.v... từ đó xác định người phạm tội có bị kích động về tinh thần hay không, mức độ kích động ở mức nào do bạn không trình bày cụ thể các yếu tố nêu trên nên chưa đánh giá được hành vi trên nên:

TH1: Nếu hành vi trên đủ yếu tố để xác định hành vi là trong trạng thái tinh thần bị kích động thì khi gây tổn hại sức khỏe cho từng người là từ 31% trở nên thì hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 135 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều 135. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người.

TH2: Nếu hành vi đó không thuộc trường hợp 1:

Căn cứ Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017)

"Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm"

Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017)

"Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;"

Như vậy hành vi trên do bạn gây thương tích cho trẻ em nên bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) với tình tiết giảm nhẹ theo điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nêu trên.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?