Căn cứ pháp lý:

Luật Thanh tra 2010

1. Khái niệm đối tượng thanh tra

Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước, do đó đối tượng của quản lý chính là đối tượng của thanh tra. Tuy nhiên cần phân biệt: chủ thể quản lý tác động đến đối tượng thường xuyên, liên tục bằng các quyết định quản lý, còn kiểm tra, thanh tra với tư cách là chức năng của quản lý, tác động vào đối tượng bằng việc xem xét đánh giá, kết luận việc chấp hành quyết định quản lý. Phạm vi quản lý mở rộng đến đâu thì phạm vi tác động của kiểm tra thanh tra mở rộng đến đó, không một tổ chức, cá nhân nào trong hệ thống quản lý nằm ngoài sự tác động của kiểm tra thanh tra. Về phạm vi  thanh tra, Điều 2 của Luật  Thanh tra quy định:

"Cơ quan thanh tra nhà nước tiến hành thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp’’. Như vậy, xét trong phạm vi quản lý theo ngành, lĩnh vực thì  ĐTTT Tư pháp là các tổ chức, cá nhân, đơn vị có hoạt động trong lĩnh vực thuộc quyền quản lý của Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp.

Nếu xét trong phạm vi từng cuộc thanh tra thì ĐTTT là những cá nhân, đơn vị có trong quyết định thanh tra. Ví dụ như trong quyết định thanh tra Thi hành án Hà Nội thì các công chức thuộc Thi hành án Hà Nội là ĐTTT của riêng cuộc thanh tra này.

“Đối tượng thanh tra” được hiểu là chủ thể có quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định mà hoạt động thanh tra tác động đến nhằm xem xét, đánh giá, kết luận việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn hoặc một công việc cụ thể có liên quan trực tiếp tới nội dung thanh tra. Việc xác định thống nhất, đầy đủ và có cách tiếp cận rõ ràng về đối tượng thanh tra có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động thanh tra. Bài viết dưới đây sẽ phân tích cụ thể.

2. Khái niệm chất vấn ĐTTT

Chất vấn là quyền hỏi và yêu cầu phải giải thích rõ ràng của đại biểu (đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân) đối với các chức danh được các đại biểu bầu, phê chuẩn ra trước phiên họp toàn thể của cơ quan đại diện để trả lời về sự thi hành chính sách quốc gia hoặc một vấn đề hiện thời đối với quốc gia; trong trường hợp cần điều tra thì đối với Quốc hội, có thể quyết định cho trả lời trước Uỷ ban Thường vụ Quốc hội hoặc tại kì họp sau của Quốc hội hoác cho trả lời bằng văn bản.

Một trong những đặc điểm của chất vấn là qua thủ tục chất vấn tạo ra một cuộc thảo luận của cơ quan đại diện, trong đó tất cả các đại biểu có mặt đều có quyền tham dự. Kết quả của thủ tục chất vấn có ý nghĩa chế tài, thường bằng một nghị quyết của kì họp ở mức độ có thể thoả mãn đối với câu trả lời của người bị chất vấn; ngược lại, có thể đặt vấn đề bất tín nhiệm đối với cơ quan chất vấn.

Chất vấn ĐTTT là một hoạt động chủ yếu trong thanh tra, do Thanh tra viên tiến hành tác động trực tiếp vào tâm lý ĐTTT, mục đích thu được lời khai đúng, đầy đủ về sự thật của nội dung thanh tra và những tin tức cần thiết khác.

Chất vấn ĐTTT là một hoạt động nghiệp vụ của các cơ quan thanh tra.

Sự hình thành lời khai của ĐTTT là một quá trình phức tạp, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan tác động vào quá trình trí giác, lĩnh hội, ghi nhớ, biểu tượng, tái hiện và thuật lại... đồng thời ĐTTT dùng thủ đoạn, mánh khoé để che giấu sự thật, hòng trốn tránh trách nhiệm. Bởi vậy, để lấy được lời khai đúng, đầy đủ của ĐTTT đòi hỏi Thanh tra viên một mặt tuân thủ các quy định của pháp luật, phải đầy đủ phẩm chất cá nhân của một Thanh tra viên. Mặt khác phải có sự mềm dẻo, khôn khéo, linh hoạt trong ứng xử chất vấn ĐTTT. Hiểu chất vấn chỉ là "hỏi" và "đáp" thực chất chỉ nhìn hình thức bề ngoài và dễ dẫn đến tầm thường hoá hoạt động thanh tra này.

Chất vấn ĐTTT là hoạt động nghiệp vụ được thể hiện ở những điểm sau đây:

- Chất vấn ĐTTT bao gồm một hệ thống các phương pháp kỹ thuật đa dạng và phong phú hay có thể nói chất vấn là "nghệ thuật" chinh phục ĐTTT. Bởi vậy, tuân thủ pháp luật một cách cứng nhắc hay dừng lại ở một số kỹ thuật cơ bản sẽ hạn chế kết quả quá trình chất vấn. Thanh tra viên nắm vững và biết vận dụng hợp lý hệ thống phương pháp, kỹ thuật chất vấn vào từng ĐTTT cụ thể mới đạt hiệu quả cao trong chất vấn.

3. Đặc điểm của chất vấn ĐTTT

-  Chất vấn ĐTTT là hoạt động thanh tra phức tạp và đôi khi gay go, quyết liệt.

Đặc điểm khá phổ biến trong hoạt động khai báo của ĐTTT là che giấu sự thật, dùng mọi mánh khoé, thủ đoạn đối phó lại cán bộ thanh tra, thậm chí mua chuộc... Bởi vậy chất vấn thường diễn ra một cách phức tạp, đôi khi gay go và quyết liệt, biểu hiện của nó là cuộc đấu trí giữa ĐTTT và cán bộ thanh tra. Những trường hợp ĐTTT có bản lĩnh nhiều mánh khoé và kinh nghiệm chống đối mà trong tay cán bộ thanh tra còn ít tài liệu, chứng cứ thì  chất vấn sẽ gặp nhiều khó khăn. Nếu tiến hành chất vấn ĐTTT tốt sẽ thu được nhiều thông tin chính xác,  có giá trị.  Điều đó đòi hỏi cán bộ thanh tra phải có bản lĩnh công tác, luôn cảnh giác, biết kiềm chế, có niềm tin, nắm vững pháp luật, tinh thông nghiệp vụ chuyên môn của mình thì mới có thể thu  được kết quả tốt.

Trong thực tiễn thanh tra các vụ việc, chất vấn ĐTTT luôn luôn là một hoạt động thanh tra phổ biến nhất, có khả năng thu nhiều tin tức nhất về vụ việc đang thanh tra cũng như những tin tức khác mà cơ quan thanh tra cần thu thập.

Chất vấn ĐTTT tuy phổ biến, quan trọng, song cần đánh giá đúng vị trí, ý nghĩa của nó. Đánh giá quá cao hay hạ thấp vai trò của chất vấn ĐTTT đều phạm sai lầm.

Đánh giá quá cao vai trò của người chất vấn sẽ dẫn tới lạm dụng chất vấn, coi chất vấn là vạn năng, dùng chất vấn thay thế các hoạt động thanh tra khác, coi thường các loại tài liệu, chứng cứ khác. Hạ thấp vai trò của chất vấn ĐTTT sẽ dẫn đến không tận dụng tối đa khả năng nhanh chóng thu được tài liệu, chứng cứ của vụ việc.

4. Cơ sở pháp lý của việc chất vấn ĐTTT

Căn cứ vào Điều 39, 40 của Luật Thanh tra thì người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra có nhiệm vụ, quyền hạn sau: "Yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng văn bản, giải trình về những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra; khi cần thiết có thể tiến hành kiểm kê tài sản của đối tượng thanh tra liên quan đến nội dung thanh tra;..."

"Điều 54. Nghĩa vụ của đối tượng thanh tra

1. Chấp hành quyết định thanh tra.

2. Cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác các thông tin, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan Thanh tra, Đoàn thanh tra, Thanh tra viên và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của thông tin, tài liệu đã cung cấp."

5. Nhiệm vụ của chất vấn ĐTTT

a. Làm rõ tính chất vụ việc, nội dung cần thanh tra, vai trò của từng ĐTTT trong vụ việc

Trong quá trình thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra và các thành viên Đoàn thanh tra phải bám sát vào Kế hoạch thanh tra đã được người ra quyết định thanh tra phê duyệt kèm theo quyết định thanh tra.

b. Thu thập và củng cố những thông tin  có giá trị chứng cứ để xác định sự thật của vụ việc từ lời khai của ĐTTT

Quá trình thanh tra là quá trình thu thập chứng cứ thanh tra. Bởi vậy cần có những tài liệu làm căn cứ cho việc ra quyết định và tiến hành các biện pháp thanh tra. Mặt khác, kết thúc cuộc thanh tra bao giờ cũng sẽ có một hình thức xử lý nhất định. Muốn xử lý đúng người, đúng lỗi, đúng tính chất, mức độ sai phạm của từng ĐTTT, Thanh tra viên phải thu được đầy đủ chứng cứ về các sai phạm của họ. Bởi vậy, trong quá trình chất vấn, Thanh tra viên phải luôn luôn hướng vào phát hiện, thu thập, củng cố, kiểm tra và đánh giá lại toàn bộ tài liệu, chứng cứ đã có, phát hiện tài liệu, chứng cứ mới để xác định ĐTTT thực sự có sai phạm không. Nếu có thì:  sai phạm gì, tính chất, mức độ sai phạm ra sao, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, trách nhiệm ; động cơ, mục đích sai phạm, nhân thân ĐTTT, tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi sai phạm gây ra. Các tài liệu trên phải được củng cố chặt chẽ về nội dung và hình thức để có giá trị chứng minh  sai phạm.

c. Thu thập từ ĐTTT những tin tức về nguyên nhân và điều kiện sai phạm, phát hiện những sơ hở, thiết sót của cơ quan, đoàn thể trong  công tác quản lý cũng như trong việc chấp hành chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước.

Tại Điều 3 của Luật Thanh tra đã quy định rõ mục đích thanh tra là:

“Hoạt động thanh tra nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.".

Chất vấn ĐTTT có điều kiện thuận lợi trong việc thu thập rộng rãi các tin tức trên lĩnh vực này. Do vậy quá trình chất vấn cần hướng vào thu thập những tin tức về nguyên nhân và điều kiện sai phạm; về những sơ hở và thiết sót của ta trên các lĩnh vực quản lý nhà nước.

Cần đặc biệt quan tâm tới việc phát hiện những sơ hở thiếu sót của lực lượng thanh tra  trong công tác nghiệp vụ, thông báo kịp thời cho các lực lượng tiến hành các hoạt động này khắc phục những sơ hở, thiếu sót đó.

Tuy nhiệm vụ này không cấp bách, song đòi hỏi người cán bộ thanh tra phải nhận thức được khả năng của chất vấn ĐTTT, xác định được trách nhiệm của mình và kiên trì trong quá trình chất vấn.

Các nhiệm vụ chất vấn ĐTTT có vị trí khác nhau, song có mối quan hệ mật thiết với nhau. Tuỳ từng vụ việc và từng ĐTTT, từng giai đoạn thanh tra mà nhiệm vụ này hoặc nhiệm vụ kia nổi lên đòi hỏi Thanh tra viên phải tập trung giải  quyết. Do đó không coi nặng hay nhẹ nhiệm vụ nào và không tách rời các nhiệm vụ đó với nhau.