1. Khái niệm về chính trị

Chính trị là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, cũng như các dân tộc và các quốc gia với vấn đề giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực Nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào công việc của Nhà nước và xã hội, là hoạt động chính trị thực tiễn của giai cấp, các đảng phái chính trị, các nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện đường lối và những mục tiêu đã đề ra nhằm thỏa mãn lợi ích.

Từ khi xuất hiện, chính trị ảnh hưởng tới quá trình tồn tại và phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia, dân tộc và toàn nhân loại. Trước khi chính trị học ra đời với tư cách là một khoa học (political science) nghiên cứu chính trị như một chỉnh thể, có đối tượng, phương pháp, khái niệm, phạm trù..., đã có các quan niệm, quan điểm, thậm chí tư tưởng, học thuyết của các học giả khác nhau bàn về các khía cạnh của chính trị.

2. Khái niệm triết học chính trị.

Triết học chính trị nghiên cứu các vấn đề cơ bản về nhà nước chính quyền, chính trị tự do, công bằng, tài sản, quyền, luật và việc thực thi luật pháp bởi các cơ quan thẩm quyền.

Mục tiêu nghiên cứu của triết học chính trị là trả lời các câu hỏi:

Những yếu tố kể trên là gì?

Tại sao lại phải có chúng?

Cái gì khiến cho chính quyền là hợp pháp?

Những quyền và tự do nào cần được bảo vệ và tại sao?

Luật pháp là gì và khi nào có thể hủy bỏ luật một cách hợp lẽ?

Trong ngôn ngữ thông thường, “Triết học chính trị” chỉ có nghĩa chỉ quan điểm chung, hoặc niềm tin hay thái độ đạo đức cụ thể về chính trị mà không nhất thiết thuộc về chuyên nghành nào của triết học.

Chính trị có hai nghĩa: 1. Những vấn đề điều hành bộ máy nhà nước hoặc những hoạt động của giai cấp, chính đảng nhằm giành hoặc duy trì quyền điều hành nhà nước: chế độ chính trị, tình hình chính trị, hoạt động chính trị. 2. Những hiểu biết về mục đích, đường lối và nhiệm vụ đấu tranh của các chính đảng cũng như đông đảo quần chúng: công tác chính trị, giáo dục ý thức chính trị [1].

3. Triết Học Xã Hội

Triết học xã hội là bộ môn triết học nghiên cứu về những vấn đề quan tâm trong hành vi xã hội mà thường là hành vi của con người. Triết học xã hội đề cập đến nhiều vấn đề từ cá nhân con người có ý nghĩa gì cho đến tính hợp pháp của luật lệ, từ khế ước xã hội cho đến các tiêu chí của một cuộc cách mạng, từ chức năng của những hành động thường ngày cho đến tính hiệu quả của môn khoa học về văn hóa, từ những thay đổi trong phân bố nhân khẩu của con người cho đến trật tự xã hội như trong cách tổ chức tập thể của một tổ ong.

Triết học xã hội còn hiểu theo nghĩa khác là một phân môn hẹp chuyên nghiên cứu việc áp dụng các nguyên lý chung về đạo đức vào việc giải quyết các vấn đề như tự do, bình đẳng, công bằng và nhà nước.

Thông thường các nhà chính trị đấu tranh giành quyền lợi cho chính giai cấp hay tổ chức đảng của mình. Họ có thể tuyệt tiêu đối phương vì quyền lợi của họ. Còn đối với Phật giáo thì làm bất cứ việc gì cũng phải vì lợi ích của quần chúng vì lợi ích và an lạc cho số đông. Quan điểm chính trị cũng dựa trên tinh thần này. Chính trị phật giáo cũng phải vì lợi ích chung cho dân tộc, cho đất nước, cho cả nhân loại trên thế giới. Điều này thấy rõ qua quan điểm chính trị của các thiền sư Việt Nam, đặc biệt là quốc sư Viên Chứng: “Phàm làm đấng nhân quân, thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình và tâm thiên hạ làm tâm của mình. nay thiên hạ muốn đón bệ hạ về, bệ hạ không về sao được? Tuy nhiên việc nghiên cứu nội điển xin bệ hạ đừng phút nào quên” [2].

Nói chung, triết học chính trị xã hội Phật giáo là những vấn đề những hoạt động trong xã hội liên quan tới sự thịnh suy và ổn định của đất nước. Tất cả các hoạt động này phải vì lợi ích cho dân tộc, vì lợi ích cho số đông.

4. Quan điểm chính trị xã hội phật giáo thời Phật còn tại thế.

Như ta đã biết, sau khi đức Thế Tôn thành đạo dưới cội Bồ Đề, Đức Phật vì an laic, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người nên Ngài đi du hóa khắp nơi. Trong tâm Ngài không hề có sự phận biệt giữa các giai cấp của xã hội Ấn Độ đương thời. Ai đủ duyên thì Ngài hóa độ cho dù người đó thuộc giai cấp bần cùng hay giai cấp cao quý. Theo quan điểm của Ngài con người vốn không có giai cấp “Con người không có giai cấp khi nước mắt cùng mặn và dòng máu cùng đỏ”. Trong Tăng đoàn thì mọi người có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau. Chúng ta thấy Tăng đoàn là một tiểu xã hội, mang tính dân chủ tuyệt đối. Mọi người trong Tăng đều có quyền biểu quyết đồng ý hay không đồng ý khi Tăng đưa ra một vấn đề nào đó cần giải quyết. Vấn đề này được quyết định khi tất cả thành viên trong Tăng đều tán thành. Điều này chúng ta thấy rõ qua pháp yết ma. Về mặt xã hội đức Phật dạy xã hội muốn ổn định không có trộm cướp, nói dối, bạo động, thù hằn .v.v. thì cần phải giúp dân thoát cảnh nghèo đói. Bởi vì nghèo đói là nguyên nhân căn bản xảy ra trình trạng đó. Vì thế, muốn cải thiện xã hội thì cần phải cải thiện kinh tế. Để cải thiện kinh tế Phật dạy người cầm quyền cần phải làm “Cung cấp hạt giống và phương tiện canh tác cho các nhà nông. Cung cấp vốn cho những người kinh doanh đầu tư; trả lương thích đáng cho công nhân. Đại bố thí cho nhân dân thay thế các lễ tế đàn” [3].

Còn đối với hàng người dân bình thường thì phải biết quân bình cân đối trong việc thu chi. Phật dạy: số tiền thu nhập được cần chia ra làm bốn phần

Phần thứ nhất: phát triển thêm nghề nghiệp

Phần thứ hai: tiêu dùng hàng ngày

Phần thứ ba: phòng khi bệnh tật

Phấn thứ tư: bố thí, cúng dường

Chúng ta thấy lời dạy của đức Phật cách nay hơn 2500 năm nhưng đem áp dụng vào đời sống hiện tại vẫn còn có giá trị rất cao. Hiện tại hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng biện pháp này để cải tạo xã hội, giúp người dân thoát cảnh nghèo đói.

Mặt khác, muốn cho đất nước hùng mạnh đức Phật còn dạy cho các bậc đế vương lúc bấy giờ về thập vương pháp. Đây là mười điều mà nhà vua và quần thần cần phải thực hiện để đem lại hạnh phúc cho nhân dân

1. Vua độ lượng, bác ái, bố thí, không khát ái, không tham lam tiền của, tài sản

2. Giữ giới: không sát sinh, không bóc lột, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không say sưa.

3. Hy sinh tất cả cho lợi ích dân chúng. Vị ấy (vua) sẵn sàng từ bỏ mọi tiện nghi cá nhân, danh tiếng và ngay cả sự sống.

4. Thành thật và liêm khiết

5. Hiền từ và hòa ái

6. Khắc khổ trong nếp sống

7. Không được sân hận, không được tư thù

8. Nhẫn nhục trước mọi khó khăn, chỉ trích mà không để mất bình tĩnh.

9. Bất hại: không hại người, đề cao hòa bình, ngăn chặn chiến tranh và những bạo động phá hoại sự sống.

10. Không chống lại ý muốn của nhân dân, thuận ý dân.

Chúng ta thấy ở điều thứ 3 thể hiện tinh thần hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích cho dân chúng. Có như vậy mới thật sự là một vị vua, quan tốt, mới có thể xây dựng dất nước vững mạnh. Thực tế xã hội ngày nay cho chúng ta thấy, những người cầm quyền mà chỉ lo phục vụ quyền lợi cá nhân mà không nghĩ tới lợi ích chung của đất nước, của nhân dân thì chính họ đã làm cản trở đình trệ sự phát triển của đất nước. Các công trình xây dựng của quốc gia bị rút ruột làm cho công trình kém chất lượng không thể sử dụng được như bệnh viện Vĩnh Long xây dựng vừa xong chưa khánh thành mà lại xuống cấp phải sửa chữa. Đã làm tốn biết bao tiền của và thời gian của nhân dân.

Bên cạnh đó, để đất nước vững mạnh đức Phật còn dạy thêm bảy pháp bất thối. Bảy điều làm cho xã hội cường thịnh.

1. Tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau.

2. Tụ họp trong niệm đoàn kết và giải tán làm việc trong niệm đoàn kết.

3. Sống đúng pháp luật, sống đúng với truyền thống của dân Vajji như đã ban hành thuở xưa.

4. Tôn sùng kính trọng đảnh lễ cúng dường các bậc trưởng lão và nghe theo lời dạy của những vị này.

5. Không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ phải sống với mình.

6. Tôn sùng kính trọng đảnh lể cúng dường các tự miếu của Vajji ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ và làm đúng với quy pháp.

7. Bảo hộ che chở, ủng hộ đúng pháp các vị AlaHán ở tại Vajji và những vị ALaHán đã dược sống an lạc

Bảy điều này được nhà Trần áp dụng một cách triệt để. Khi quân nguyên sang xâm lược nước ta thì nhà Trần đã mở một cuộc tập họp các bô lão thăm dò ý kiến của họ. Cuộc họp mà khi xưa gọi là “Hội Nghị Duyên Hồng” đã làm nện kỳ tích cho dân tộc. Do thấm nhuần tư tưởng trị nước của Phật giáo đã tạo nên sức mạnh giúp nhà Trần ba lần đánh bại quân Nguyên, đội quân mà bách chiến bách thắng từ Âu sang Á phải cuối đầu thất bại bởi một nước nhỏ bé.

Đức Phật dạy về phép trị nước cho các vua chúa không ngoài vì lợi ích và an lạc của quần chúng nhân dân. Ngài không vì lợi ích riêng cho một cá nhân hay giai cấp nào. Tuy có dạy về chính trị nhưng đức Phật chỉ là người đứng bên ngoài hướng dẫn chứ không trực tiếp tham gia vào chính trị như Khổng Tử, Tuân Tử .v.v. quan điểm Phật rất rõ ràng không tham gia chính trị mà chỉ thuần hướng dẫn đệ tử tu tập giải thoát “Giáo pháp ta chỉ thuần có một vị, vị đó chính là vị giải thoát”.

5. Tư tưởng chính trị xã hội Phật giáo hiện đại.

Trong bối cảnh hiện đại, đất nước chúng ta sống trong cảnh hòa bình yên ổn, nền kinh tế đang phát triển, trên đà hội nhập với kinh tế thế giới. Giới Tăng sĩ chúng ta đã làm gì, đang làm gì và sẽ làm gì để cho nhân dân được ấm no hạnh phúc cho đất nước được giàu mạnh sánh vai với các cường quốc năm châu.

Như chúng ta đã biết tôn giáo là nơi tập hợp quần chúng. Hơn thế nữa, Phật giáo chúng ta đã gắn liền với lịch sử dân tộc hơn hai ngàn năm. Dân tộc, đất nước thịnh thì Phật giáo phát triển, còn đất nước suy thì Phật giáo cũng bị ảnh hưởng. Nói đúng hơn, con người Việt Nam gắn liền với Phật giáo Việt Nam, hầu hết nhân dân Việt Nam đều là Phật tử hoặc ông cha của họ cũng là Phật tử. Với điều kiện thuận lợi này Phật giáo chúng ta phải biết kêu gọi đồng bào Phật tử phải đoàn kết thương yêu và chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau. Có đoàn kết, có tình thương thì mới có đủ sức mạnh về thể chất và tinh thần chống lại âm mưu của ngoại bang dòm ngó để chống phá nền hòa bình và độc lập của chúng ta. “Đoàn kết, đoàn kết đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công”. Lịch sử đã chứng minh cho ta thấy, có tinh thần đoàn kết thì đời Trần mới có đủ sức mạnh ba lần đánh bại quân Nguyên viết lên trang sử hào hùng cho dân tộc nói chung cho Phật giáo nói riêng.

Mặt khác, năm nay (2008) nước ta lần đầu tiên được đăng cai tổ chức đại lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc, được sự hỗ trợ của chính phủ. Đại lễ này mang một ý nghĩa chính trị rất lớn, Phật giáo chúng ta tổ chức đại lễ này thành công thì cũng đã giúp cho nền chính trị nước nhà ổn định.

Khi Phật còn tại thế thì Ngài không cho hàng đệ tử xuất gia làm kinh tế và chính trị nhưng ở thời điểm hiện nay, xã hội đang phụ thuộc vào kinh tế thị trường. Có nền kinh tế phát triển và vững mạnh thì nhân dân mới có thể sống trong ấm no hạnh phúc, vì thế giáo hội Phật giáo Việt Nam nên có định hướng phát triển kinh tế. Vả lại, có kinh tế thì mới có thể thực hiện được Phật sự và phát triển Phật giáo sâu rộng vào mọi tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, làm kinh tế hay bất cứ việc gì cũng phải phát xuất từ tâm niệm là vì lợi ích cho quần sanh. Nếu thiếu đi tâm niệm này thì sẽ bị mất gốc. Cho dù mang hình thức Phật giáo mà chỉ làm vì lợi ích của cá nhân mình mà không nghĩ tới lợi ích của người khác thì chẳng còn ý nghĩa của người con Phật đang làm Phật sự nữa. Vì an lạc, vì lợi ích cho quần sanh là quan điểm sống của Phật giáo xuyên suốt từ xưa đến nay. Muốn thực hiện được lý tưởng này thì bản thân của mỗi người con Phật phải rèn luyện cho mình đầy đủ giới đức, tự hoàn thiện bản thân, phục vụ chúng sanh với tinh thần vô trụ, vô chấp.

Mặt khác giáo hội Phật giáo việt nam cần phải bồi dưỡng đào tạo nhân tài, đào tạo cho lớp Tăng Ni trẻ có đầy đủ kiến thức thế học lẫn Phật học. Tuy nhiên cần phải chú trọng về mặt đạo đức. Thiếu đạo đức, đặc biệt là người tu sĩ thì sẽ mất đi giá trị của người tu. Từ xưa cổ đức đã thấy rỏ điều này nên dạy: “giới luật là mạng mạch của Phật pháp, giới luật còn là Phật pháp còn”. Cho nên giáo hội Phật giáo Việt Nam cần phải định hướng cho thế hệ Tăng Ni trẻ. Đào tạo nhân tài cho Phật giáo cũng chính là đào tạo nhân tài cho đất nước vì nhân tài là linh hôn của đất nước. Ngày xưa tổ tiên ta đã đào tạo nhiều bậc anh tài xuất thân từ Phật giáo như: Thiền sư Mãn Giác, Đỗ Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Lý Công Uẩn . . . những vị này đã thay đổi lịch sử, nắm lấy vận mênh của đất nước. Vì vậy chúng ta có thể khẳng định nhân tài là tinh hoa được kết tinh của đất nước của dân tộc.

Hơn thế nữa, đức Phật không chỉ đem hạnh phúc và an lạc cho con người bằng sự cải cách xã hội mà còn phải cải tạo tâm thức. Hạnh phúc an lạc thật sự của con người không chỉ tìm cầu bên ngoài mà được, mà cần phải chuyển hóa tâm thức “Con đường đưa đến thủ đắc vật chất là một con đường đưa đến Niết Bàn là một con đường khác”. Đức Phật dạy muốn chấm dứt khổ đau thì phải đoạn trừ tham ái. Chính tham ái mà con người phải trôi lăn trong vòng sanh tử từ vô thủy cho đến nay và còn mãi mãi về sau nữa “Sự tham ái đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia; như dục ái, hữu ái, vô hữu ái. Này chư hiền như vậy là khổ tập thánh đế” [13]. Mà còn đường đoạn trừ tham ái, chấm dứt khổ đau chứng nhập Niết Bàn là con đường Bát Chánh Đạo “Thế nào là khổ diệt thánh đế? Đó là Thánh đạo tám ngành, tức là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định” [14]. Sự đoạn trừ khổ đau chứng nhập Niết Bàn mới là mục đích tối hậu mà Phật giáo hướng đến “Chư Phật ra đời vì một đại sự nhân duyên, khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến”

Danh mục tài liệu tham khả:

1. Nguyễn Như Ý, Đại Tự Điển Tiếng Việt, Nxb Văn Hóa Thông Tin, 1998.

2. Thích Thanh Từ, Thiền Sư Việt Nam, Nxb Tp.HCM, 1999.

3. Thích Chơn Thiện, Phật Học Khái Luận, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, 1997.

4. Lê Mạnh Thát, Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam  tập 2, NXB TPHCM, 2001.

5. Lê văn siêu, Văn Học Sử Việt Nam, NXB Văn Hóa.

6. Thích Thanh Từ, Thiền Sư Việt Nam, Nxb TPHCM, 1999.

7. Thích Minh Châu (dịch),Trung Bộ III, “Kinh Phân Biệt Sự Thật”, 2001.

8. Bài giảng tại lớp – Sư Cô TN Hương Nhũ.

Ghi chú:

[1] Nguyễn Như Ý, Đại Tự Điển Tiếng Việt, Nxb Văn Hóa Thông Tin, 1998, tr. 369

[2]Thích Thanh Từ, Thiền Sư Việt Nam, Nxb Tp.HCM, 1999, tr. 240

[3] Thích Chơn Thiện, Phật Học Khái Luận, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, 1997, tr. 135

[4] Lê Mạnh Thát, Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam tập 2, NXB TPHCM, 2001, tr. 458-459

[5] Sđd, tr 462

[6] Sđd, tr 445-446

[7] Sđd, tr 495

[8] Sđd, tr 523

[9] Lê văn siêu, Văn Học Sử Việt Nam, NXB Văn Hóa, tr. 211

[10] Sđd, tr 216

[11] Sđd, tr 238

[12] Thích Thanh Từ, Thiền Sư Việt Nam, Nxb TPHCM, 1999, tr. 240

[13] Thích Minh Châu (dịch),Trung Bộ III, “Kinh Phân Biệt Sự Thật”, 2001, tr. 564

[14] Sđd,

Bài viết tham khảo: Triết học Chính trị và Quan điểm Nhập thế của Đạo Phật; TN. Liên Thảo