1. Phật Giáo có phải là một tôn giáo hay không?
Ðã có nhiều người hỏi như thế và cho đó là một câu hỏi quan trọng. Thực ra, câu hỏi này không quan trọng lắm đâu. Bởi vì, dù ta có bảo Phật giáo là một tôn giáo hay là một triết học, hoặc là một khoa học đi nữa, thì Phật giáo cũng vẫn là Phật giáo, không vì thế mà thay đỗi chút nào. Trước mắt tôi là một cuốn tự điển Phật học, tôi bảo rằng tôi: tôi trông thấy cuốn tự điển. Nếu có người hỏi rằng vì sao tôi trông thấy cuốn tự điển ấy được, tôi sẽ trả lời rằng vì tôi nhờ có đôi mắt.
"Vì nhờ có đôi mắt" câu trả lời này đúng chứ không sai. Nhưng nói là đúng hẳn thì không được, vì ngoài cặp mắt ra, phải có rất nhiều điều kiện khác như ánh sáng, không gian, nhãn thức, ý thức. v.v..
Thế thì bảo rằng "Phật giáo là một tôn giáo" hoặc bảo rằng "Phật giáo là một triết học" đều đúng cả. Nhưng chưa đúng hẳn. Lý do là khi nói như thế, ta chỉ đứng nhìn một khía cạnh của Phật giáo mà thôi. Tuy vậy, chỉ đứng trên phương diện tín ngưỡng, ta cũng có thể khảo sát và quyết đoán được rằng đạo Phật có thích hợp với tinh thần dân chủ hay không.
2. Tôn giáo và mối quan hệ với nền dân chủ
Tư tưởng của Auguste Comte có thể là đại biểu cho tư tưởng triết học cuối thế kỷ thứ mười chín và đầu thế kỷ thứ hai mươi trước hồi Âu chiến. Comte xác nhận tính cách tiến bộ của tư tưởng nhân loại, và nương vào điểm đó, ông phân lịch sử tư tưởng nhân loại làm ba thời kỳ:
1- Thời kỳ của tôn giáo tức là thời tối cổ.
2- Thời kỳ của triết học, từ đầu thế kỷ thứ mười sáu đến đầu thế kỷ thứ mười chín.
3- Thời kỳ của khoa học, từ thế kỷ thứ mười chín trở đi.
Thời kỳ tôn giáo là thời kỳ mê tín. Thời kỳ triết học là thời kỳ lý tưởng. Thời kỳ khoa học là thời kỳ thực nghiệm. Ðó là đại khái lối phân định của Auguste Comte.
Chúng ta thấy lối phân định này còn mơ hồ và chưa khỏi có chỗ sai lầm. Bảo rằng tôn giáo, triết học và khoa học là đại biểu cho ba thời kỳ như thế thật là một việc làm gượng gạo. Nhân loại trong thời kỳ thứ nhất, thời kỳ tôn giáo -theo Comte - há không có những tư tưởng về triết học và khoa học? Nhân loại trong thời kỳ thứ hai - thời triết học - há không có tư tưởng tôn giáo và triết học? Thế cho nên, lối phân định này có nhiều tính cách máy móc, và chính đó là chỗ sai lầm lớn của nhà triết học Pháp.
Tôn giáo, triết học và khoa học là những biểu hiệu cụ thể cho tư tưởng nhân loại. Mỗi thứ đều có một lịch trình tiến bộ riêng, một nguồn gốc riêng. Auguste Comte chỉ thấy được rằng ba thứ ấy có biến động, có tiến hóa mà thôi, chứ ông chưa thể thấy được chân tướng của chúng.
Vào thời cổ đại, tư tưởng tôn giáo còn non nớt, ấu trĩ: trong thời kỳ này, cũng đã phát sinh những suy luận triết học ấu trĩ, sai lầm và không hư. Ðồng thời cũng lại đã phát sinh ra khoa học: tìm những khí cụ, những vật dụng sinh hoạt của thực dụng nhân sinh, lợi dụng sức nước để giã gạo, phát minh ra lửa... đều là những thành tích ban đầu của khoa học. Tuy đó không phải là thời kỳ của máy bay, đại bác, nguyên tử, nhưng nếu không có thời ấu trĩ thô vụng thì làm gì có thời kỳ trưởng thành tinh xảo?
Từ thế kỷ mười chín đến nay, khoa học tiến triển nhanh chóng phi thường : triết học và tôn giáo theo đà ấy cũng tiến bộ. Hiện đại, triết học Tây Phương, vì chịu ảnh hưởng mới, đã bắt đầu được kiến thiết trên nền tảng khoa học, và giải quyết được nhiều vấn đề mới mẻ.
Tôn giáo có cái ước vọng giải quyết căn nguyên vũ trụ nhân sinh, nhưng bao giờ cũng cần đến đức tin trước hết. Triết học cũng muốn có cái nhìn tổng quát như tôn giáo, nhưng lại muốn vô tư hơn. Khoa học, trong khi ấy, lại là cái nhìn chi ly. Không xây dựng trên yếu tố tín ngưỡng, triết học phải luôn luôn dựa vào thực nghiệm để tìm chân đứng cho vững chãi. Thế cho nên triết học đóng vai trò tổng hợp, đó là kết quả của sự chiết trung điều hòa hai thứ khoa học và tôn giáo.
Vì thế, triết học đã bài xích các tôn giáo mê tín sai lạc và nâng đỡ các tôn giáo chân chính, hợp với trình độ văn minh của xã hội đương thời. Ðứng giữa tôn giáo và khoa học, đôi khi triết học thuyết minh những điều mà khoa học chưa biết đến. Tuy đang còn ở trong phạm vi lý tưởng nhưng những điều đó có thể là sự phát minh sau này của khoa học thực nghiệm. Nhờ công việc khảo sát tín ngưỡng và hướng dẫn phát minh, triết học lại được gọi là yếu tố xúc tiến tôn giáo và khoa học.
Sự nghiệp của xã hội tùy thuộc rất nhiều ở quan niệm con người về cả ba phương diện: tôn giáo, khoa học, triết học. Nhiều người không hiểu được thế, lại cho rằng xã hội mới chỉ cần đến khoa học thực nghiệm. Sự thiên chấp này là hậu quả của ảnh hưởng thuyết "tam thời kỳ" của Auguste Comte. Vì cho rằng tôn giáo là đại biểu cho tư tưởng nhân loại trong thời đại cổ, không thích hợp với thế giới văn minh ngày nay nữa, cho nên có kẻ chủ trương không cần tôn giáo. Thậm chí có những đảng phái chính trị hô hào "đả đảo tôn giáo" và gây được cả một phong trào trong xã hội tạp loạn.
Kỳ thực, nhân loại không thể không có tín ngưỡng. Khảo sát lại lịch sử, ta thấy rằng tôn giáo chính là nền tảng của sự đoàn kết xã hội. Tuy nhiên, một nền tín ngưỡng sai lạc có thể cấu tạo một xã hội độc tài, có thể hướng con người đến chỗ ham mê chinh phục, gây nhân bất thiện. Cần có một nền tảng tín ngưỡng chân chính, con người mới có thể thực hiện được một sự đoàn kết vĩ đại, một lực lượng xã hội mạnh mẽ, không hướng nhân loại về độc tài, chuyên chế, áp bức, chinh phục.
Lực lượng đoàn kết của nhân loại - xã hội tính - vì thế rất cần thiết cho nhân loại, nhưng điều kiện tổ chức cụ thể nhất và hoàn bị nhất của xã hội lại là quốc gia. Mỗi quốc gia đều có thể là đơn vị cho lực lượng đoàn kết vĩ đại ấy. Mỗi quốc gia đều có một tín ngưỡng về vũ trụ (vũ trụ quan) để làm bối ảnh cho một nhân sinh quan đặc biệt của mình. Nương vào tín ngưỡng vũ trụ, con người có một nhân sinh quan - đó là con người bắt chước tự nhiên giới để tổ chức nhân sự giới. Nền chính trị xưa của Trung quốc lấy câu "pháp thiên quy địa" làm nền tảng là vì thế. Sinh hoạt, phong tục, tôn giáo của nhân dân đều tùy thuộc các điều kiện tín ngưỡng ở vũ trụ quan ấy, và vì thế, nền tảng quốc gia mới có thể vững chắc. Do đó mà suy, sự tin tưởng ở một vũ trụ quan là chỗ tập trung của tư tưởng và ý chí của một quốc gia vậy.
Nay đề cập đến chính thể dân chủ, tức là nói đến một hình thức xã hội chính trị. Ta thử xét xem tôn giáo liên hệ đến tổ chức xã hội và chính trị như thế nào, rồi do đó xét định xem Phật giáo có thích hợp với tinh thần dân chủ hay không.
Ðứng về phương diện quan hệ giữa tôn giáo và chính trị, ta có thể phân lịch sử nhân loại làm ba thời kỳ:
1- Ðầu tiên là thời cổ đại. Ðó là thời đại đa thần giáo. Về thời ấy, trí thức nhân loại đang còn ấu trĩ, vì thế trong mọi sinh hoạt luôn luôn con người thấy mình bị thiên nhiên hăm dọa. Nhân đó, loài người phát ra sợ thiên nhiên, cho rằng mỗi hiện tượng trong vũ trụ này đều do một vị thần chủ trương: thần gió, thần mưa, thần sấm, thần sét, thần núi, thần sông... Sợ rồi sinh ra sùng bái, tin tưởng và khẩn cầu. Vì thế, thời kỳ đó được gọi là thời đa thần giáo. Ở thời kỳ ấy, con người sống thành từng bộ lạc một, mỗi bộ lạc có một tù trưởng đứng đầu. Chế độ chính trị ấy cố nhiên là lấy vũ trụ quan đa thần giáo làm bối cảnh.
2- Trí thức nhân loại càng ngày càng mở mang. Từ tín ngưỡng đa thần con người tiến đến tín ngưỡng nhất thần cho rằng vũ trụ và con người do một đấng thần minh tối đại sáng tạo. Hiện tượng vũ trụ tuy sai khác phiền đa, nhưng đều do một vị thần minh duy nhất sinh sản. Ðấy là thời kỳ nhất-thần-giáo. Chính trị ở thời đại ấy được tổ chức theo hình thức quân chủ. Nhân sự tín ngưỡng nhất thần -- vũ trụ quan nhất-thần-giáo -- mà phát sinh hình thức quân chủ thần quyền chuyên chế.
3- Ðến thời đại cận kim, trí thức nhân loại tiến rất nhanh. Con người tự giác được giá trị và quyền hạn của mình, nên đã cùng nhau xướng xuất phong trào đả đảo chế độ quân quyền để thiết lập chế độ dân quyền bình đẳng. Người dân thấy rằng quyết định sự thành bại thịnh suy của quốc gia không phải là ở một đấng quân vương mà là ở toàn dân. Các cá nhân, đối với xã hội và đối với tổ chức tối cao của quốc gia cũng thế, đều phải có một nghĩa vụ tương đương và được hưởng những quyền lợi tương đương.
Trung tâm của sự đoàn kết là chỗ mỗi cá nhân đều có lấy một sự nhận thức bổn phận của một công dân trong một nước dân chủ, hiểu rõ thế nào là dân chủ và thực hành theo nguyên tắc dân chủ. Nghĩa vụ và quyền lợi cùng chia cùng hưởng - không có giai cấp, hoàn toàn bình đẳng. Ðiểm trung tâm là tư tưởng cộng đồng của dân chúng. Nói một cách khác hơn, mỗi cá nhân đều là một điểm trung tâm cả.
Trong thời kỳ dân quyền lan rộng, những tín ngưỡng đa thần và nhất thần không còn thích hợp nữa và cố nhiên là sẽ không đứng vững mãi được. Phải có một tôn giáo không giai cấp, một tôn giáo mà chân lý bình đẳng được phát huy, một tôn giáo xác nhận giá trị sáng tạo và xây dựng của mỗi con người - để làm bối ảnh tập trung sự tín ngưỡng của toàn dân, và để làm nền tảng cho sự phát triển cá tính và cộng đồng tính.
Ở đây, chỉ có Phật giáo là xứng đáng. Triết học Phật giáo cũng thuyết minh một vũ trụ quan: đánh đổ vũ trụ quan mê tín của nhất thần và đa thần giáo để kiến lập một vũ trụ quan nhân duyên sinh.
Nhân duyên tức là những sự kiện tương quan tương duyên và tương thành. Vũ trụ, xã hội và nhân loại tốt đẹp hay xấu xa, tất cả đều do hoạt động của con người. Thân nghiệp, khẩu nghiệp, và ý nghiệp của các cá nhân cộng đồng kiến tạo một vũ trụ, một xã hội. Ðộng cơ của tất cả thành, bại, nên, hư, xấu, tốt, đều do ở biệt nghiệp và cộng nghiệp của mọi chúng sanh.
Nền tín ngưỡng này - tín ngưỡng ở một vũ trụ quan nhân duyên cộng nghiệp - rất thích hợp với quan niệm bình đẳng của xã hội hiện tại. Ở đây, con người không phải nép phục dưới thần linh nữa mà trái lại thấy rằng mình chịu trách nhiệm hoàn toàn về hạnh phúc của chính mình. Một tín ngưỡng chân chính như thế, xác nhận giá trị bổn phận và quyền lợi của con người một cách vững vàng như thế thì thực rất thích hợp với hoài bão và khả năng của con người, nói tóm lại, rất có thể làm nền tảng cho sự kiến thiết một xã hội thực sự dân chủ, tôn trọng bình đẳng và tự do.
Một quốc gia biết lấy tín ngưỡng "vũ trụ quan duyên sinh cộng nghiệp" làm bối ảnh, có thể thực hiện được sự đoàn kết sâu rộng, và có thể kiến tạo được một nền văn hóa quốc gia nhân bản, hướng thiện.
Vì thế, chúng ta kết luận rằng Phật giáo là nền tín ngưỡng làm căn bản cho sự xây dựng một xã hội dân chủ vậy.
3. Tinh thần dân chủ trong Phật giáo
Hai tiếng Dân chủ mà loài người tự phụ cho là phát kiến ra, từ sau cách mạng 1789 ở Pháp để chấm dứt hẳn chế độ phong kiến nông nghiệp hòng bước sang giai đoạn tự do công kỹ nghệ, xét kỹ thực ra chưa đúng nghĩa dân chủ theo tinh thần Dân chủ và Nhân chủ của Phật giáo. Vì nếu nền dân chủ tư sản đó, của Pháp quốc nói riêng và của cả Âu châu nói chung, bất quá cũng chỉ mới đưa xã hội Âu châu lớn mạnh thêm lên để rồi tạo ra bao nghiệp chướng cho nhân loại đổ vỡ, sau hai cuộc thế chiến mà thôi. Thử hỏi xem nền dân chủ ấy ngày nay còn những gì, hay chỉ còn là: một sự cắt xén nội bộ quốc gia dân chủ không còn nước nào lớn mạnh và có trên một triệu dân nữa; một hối hận trong hành động diệt chủng đối với các dân tộc khác màu da; đen, đỏ, vàng, nâu trong cái gọi là văn minh Âu châu đối với thế giới bên ngoài. Theo quan niệm thuần túy Mát-xít thì cách mạng dân chủ tư sản Âu châu chỉ là sự “Cấy mạ của giai cấp phú hào, để rồi tự nó lại hủy diệt đi vì cái nhân không tốt đã nằm sẵn bên trong”. Nên mới lại nảy nở ra cái nạn cách mạng vô sản chuyên chính, mà họ cũng tự cho mình là dân chủ như ai. Tới đây, nhân loại càng hoang mang về tính chất của hai tiếng Dân chủ. Vì thứ Dân chủ tư sản Âu châu đã chỉ là thứ phi dân chủ vô nhân đạo, còn thứ dân chủ vô sản, được xây nền đắp mống ở Nga xô, thì cũng chỉ đưa đế quốc Nga của Statine tiếp nối cái công cuộc ăn cướp nước của Âu châu cho bản đồ nước Nga rộng lớn thêm thôi. Không hơn, không kém.
Thế là nhân loại, trong thế giới nhược tiểu, lại thất bại thêm lần nữa, khi những quốc gia trong thế giới cộng sản lật tẩy nhau và đánh giật cái chiêu bài vô sản.
Hiện nay, dân chủ còn là mục tiêu lý tưởng của nhân loại nữa chăng? Một vài điểm còn vớt lại của chế độ dân chủ Mỹ, như tôn trọng tự do cá nhân, phản đối chế đọ thực dân Âu Châu, hoài vọng giải phóng nhược tiểu quốc và hy sinh nước đồng minh chống cộng trong đó có nước Việt, tất ca đã đủ đảm bapr cho chế độ dân chủ chưa? Hay đó chỉ là hành động bất đắc dĩ, một thủ đoạn chính trị có đôi phần tiến bộ, nhưng thực ra còn phải sửa chữa nhiều mới có thể đi tới thực sự Dân chủ. Nói tóm lại, chủ trương dân chủ tư sản và dân chủ vô sản đều đã thắng được trọn vẹn, mà lại còn bị lợi dụng biến thành chủ nghĩa đế quốc xâm lược lối mới phi nhân đạo, nên không thoát kiếp luân hồi, tạo thêm ra bao khổ não chiến tranh.
Vì vậy, chỉ có nên dân chủ nhân chủ Phật giáo, lấy sự giác ngộ người làm chủ, mới mong thoát khỏi luật tự nhiên chi phối của tạo hóa. — Chỉ có chủ trương dân chủ nhân chủ mới có nhân đạo toàn tính. Bởi mỗi con người đều ý thưc rõ lập trường người của mình đối với bản thân, đối với xã hội loài người và đối với vũ trụ như thế nào? Có ổn định lập trường dân chủ, con người mới có thể khai triển phật tính trong lòng mình ra đẻ thực hiện Dân chủ và xây dựng xã hội có tự do, hạnh phúc và bình đẳng thực sự.
4. Xây dựng xã hội dân chủ thời Lý - Trần như thế nào?
Trước hết phải bàn tới việc giáo dục Dân chủ làm căn bản, rồi sau mới bàn tới chính trị nhân chủ, kinh tế dân chủ, và tự do dân chủ. Những vấn đề này sẽ được đề cập tới ở phần xã hội Phật giáo, giờ thiết tưởng phải trở lại xã hội Dân chủ Phật giáo thời Lý mới mong gây lại vốn liếng cho việc thực hiện xã họi dân chủ hiện tại và tương lai.
1) Bối cảnh xã hội thời Lý — Xã hội thời nhà Lý, thoát thai từ một xã hội vô cùng hỗn độn, vì sau 1030, kể từ khi cách mạng Trưng Vương thất bại đến Ngô Quyền lấy lại quyền tự chủ, suốt trong khoảng thời gian đó, chủ trương xâm lược chính trị của người Hán có kèm theo chủ trương xâm lược văn hóa nên Nhiếp Sĩ mớ mang chữ Hán sang tiêu diệt chữ Nôm của người Việt; Tích Quang và Nhâm Diên mới mang phong tục cưới, hỏi và phương pháp canh tác của người Hán sang làm đảo lộn cả nếp sống của người Việt cũ đi. Nhưng có điều mà người Hán không ngờ, là Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang Trung Hoa, sang nước Việt, để làm giảm bớt thú tính và óc tự kiêu của người Hán, nên tinh thần dân tộc Việt dù bị người Hán phá hoại, áp bức đến mấy cũng lại thoát vào cửa Phật, do chính những người Hán đã giác ngộ Phật giáo bảo trợ. Nhờ đó mà tinh thần cách mạng dân tộc vẫn tồn tại, dưới lớp áo nhà chùa, để chờ cơ hội phát động cuộc cách mạng chống ngoại xâm của Ngô Quyền và Đinh, Lê chỉ là bước đầu chuẩn bị cho Lý Công Uẩn, từ cửa Phật bước ra, hoàn thành việc cứu quốc và kiến quốc. Vì Ngô Quyền chỉ thành công ở khía cạnh quân sự đuổi nhà Nam Hán, nhưng ông không phục hưng được văn hóa dân tộc. Nên sau khi chết đi, chủ trương quân phiệt trị dân của ông đã trở thành họa Thập Nhị Sứ Quân. Chủ trương pháp trị của Đinh Tiên Hoàng thoát thai từ Khổng giáo để lập lại trật tự xã hội cũng thất bại ngay từ bước đầu, để nhường lại cho nhà cách mạng ôn hòa Lê Đại Hành. Và nhà tiền Lê cũng bị thất bại vì chủ trương dân tộc nửa mùa, không phục hưng được văn hóa dân tộc, rồi lại chống tất cả văn hóa ngoại lai, kể cả Phật giáo. Cho nên hậu quả của những hành động như có bề chế nhạo các nho sỹ mỗi khi tấu xong một việc gì, và chủ trương róc mía trên đầu Sư, với lối sống tiêu cực Lê Long Đĩnh, tất cả đã phải làm lại bằng cuộc cách mạng Phật giáo, do Lý Long Uẩn thực hiện với sự ủng hộ các vị cao Tăng như Vạn Hạnh, Cửu Chỉ, Viên Chiếu, Không Lộ, Mãn Giác, Ngộ Ấn, Từ Đạo Hạnh, Giác Hải v.v...
2) Quan niệm tổng hợp của nhà Lý — Xuất thân từ căn bản dân chủ tự do của nhà Phật, Lý Công Uẩn đã áp dụng phương pháp tổng hợp “tam giáo: Lão, Phật, Khổng” để xây dựng lại dân tộc. Đó là chủ trương: Tam giáo đồng lưu để dân được tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng. Ngoài phương pháp tổng hợp tư tưởng về phương diện đi từ lý thuyết sang hành động, nhà Lý rất mền dẻo và khôn khéo, để đoàn kết thống nhất dân tộc. Thí dụ: tha tội chết cho vị Trạng nguyên đầu tiên của Nho giáo Lê Văn Thịnh, khi ông này nắm quyền thừa tướng đã cùng các Nho sỹ khác phạm tội phản quốc. Xử thế như vậy đủ nói lên cái lòng nhân và tinh thần giới sát của nhà lãnh đạo Phật giáo thời đó như thế nào rồi.
Đem so sánh với cảnh xã hội ta thời xưa và nay có nhiều điểm tương tự, dù sự việc xảy ra có hơi khác như: Ngô Đình Diệm có thể tiêu biểu cho cả 3 thời đại Ngô, Đinh và Lê vừa độc tài quân phiệt kiểu Ngô Quyền, vừa pháp trị kiểu Đinh Bộ Lĩnh và vừa chủ trương dân tộc nửa vời trong cái gọi là: “tam túc và tam giáo” của Ngô Đình Nhu theo kiểu thời Lê.
Còn sang đến giai đoạn về sau cách mạng 1.11.1963 lật đổ nhà Ngô vừa rồi thì đáng lẽ vai trò Lý Công Uẩn của Phật giáo xưa phải xuất hiện để tổng hợp cả các tôn giáo và đảng phái giai cấp ngay nhưng vì hoàn cảnh lịch sử khách quan của xã hội Việt nam hiện tại lại có khác nên nạn mâu thuẫn Tôn giáo và chính trị lại kéo dài thêm tới hai năm rồi mới hé đi tới thỏa hiệp để ổn định tình thế, trong khi miền Bắc được trung Cộng giúp đỡ tràn vào miền Nam. Cho nên người dân Việt Nam hiện tại chưa lấy làm thỏa mãn về chủ trương thỏa hiệp và dung hòaa giữa các Tôn giáo và đảng phái, nếu đó chỉ có mục đích chia cỗ giữa các thế lực Tôn giáo và chính trị riêng tư với nhau. Người dân Việt nói chung, và người Phật tử nói riêng, đang chờ một Lý Công Uẩn xuất hiện với chủ trương tổng hợp tư tưởng thời mới có thể đưa dân tộc thoát mọi khó khăn hiện tại, để tiến lên đài vinh quang hạnh phúc chung.
Tiếng chuông vừa qua của Viện hóa đạo đã gióng lên ở kỳ đại hội toàn quốc tháng 12-1965, trong bản tuyên ngôn về thái độ và chủ trương của Phật giáo mới chỉ là bước đầu của giai đoạn hai, để mở màn cảnh tỉnh cho những người chưa giác ngộ Phật. Còn về phương diện thực hện được chủ trương đó, dân chúng phải chờ đợi ở những vị Bồ-tát tái sinh cứu thế đem lại tự do dân chủ và thanh bình cho đất nước và thế giới.
5. Bản chất và vai trò của dân chủ?
Bản chất của dân chủ là chế độ xã hội mà ở đó mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân, do dân thực hiện trực tiếp hoặc thông qua đại diện do dân bầu ra.
Vai trò của dân chủ là động lực xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, công lí cho mọi người, bình đẳng thực sự giữa nam và nữ, giữa các dân tộc, tạo cơ hội cho mọi người dân hạnh phúc thông qua việc thừa nhận và khẳng định các quyền dân chủ đó một cách chính thức trong hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật, đặt ra các bảo đảm vật chất và tinh thần để thực hiện các quyền đó và không ngừng mở rộng các quyền dân chủ; đề cao trách nhiệm cá nhân đối với Nhà nước và xã hội, phát huy không ngừng quyền làm chủ của nhân dân lao động.