1. Pháp nhân thương mại phạm tội là gì?
Để trả lời chính xác được pháp nhân thương mại phạm tội là gì thì cần phải cắt nghĩa của hai cụm từ đó là pháp nhân thương mại và tội phạm. Theo đó:
- Pháp nhân thương mại được giải nghĩa là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác theo quy định tại Điều 75 Bộ luật Dân sự 2015.
- Tội phạm theo căn cứ Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015 thì được hiểu là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực Trách nhiệm hình sự hoặc Pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến các vấn đề, quyền con người, những lĩnh vực của trật tự xã hội mà được pháp luật bảo vệ.
Do đó, có thể hiểu pháp nhân thương mại phạm tội là chủ thể pháp nhân thương mại thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến khách thể được Bộ luật Hình sự ghi nhận, bảo vệ mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự. Hành vi đó của pháp nhân có thể gây tổn hại đến nền kinh tế, sự an toàn của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp hay chính phủ của nước ta hay ở đất nước nào khác mà pháp nhân thương mại đang hoạt động.
2. Phân loại tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện? Và chọn khẳng định đúng
A. Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
B. Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định phân loại tội phạm đối với cá nhân phạm tội.
C. Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định phân loại tội phạm đối với cá nhân phạm tội và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
D. Không có quy định về phân loại tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện.
Phương án đúng là C Bởi vì: Căn cứ vào Khoản 2 Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015 phân loại tội phạm đôi với pháp nhân thương mại.
Chính vì vậy, để phân loại tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện thì cần phải dựa vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự hiện hành, theo đó có thể phân loại pháp nhân thương mại thành bốn loại như sau:
- Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
- Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;
- Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;
- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
Do đó, tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 Bộ luật Hình sự 2015.
3. Điều kiện, phạm vi chịu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại
- Về điều kiện chịu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội thì căn cứ vào Điều 75 Bộ luật Hình sự 2015 được quy định như sau: Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện đó là:
- Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;
- Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;
- Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;
- Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này: tuỳ thuộc vào tội phạm mà pháp nhân thương mại thực hiện: 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng; 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng; 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng; 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Lưu ý, việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân.
- Về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại bao gồm các tội phạm được quy định tại các tội theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Hình sự 2015 như: tội buôn lậu, tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, tội sản xuất, buôn bán hàng cấm, tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, tội sản xuất, buôn bán hàng giả, tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm,....
4. Các hình thức xử phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội
- Hình phạt hành chính:
- Phạt tiền: Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội, sự biến động của giá cả nhưng không được thấp hơn 50.000.000 đồng
- Đình chỉ hoạt động có thời hạn: Đình chỉ hoạt động của pháp nhân trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế. Thời hạn đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 03 năm;
- Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn: Chấm dứt hoạt động của thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả đó. Pháp nhân thương mại được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm thì bị đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ mọi hoạt động..
- Hình phạt bổ sung:
- Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án tiếp tục kinh doanh hoặc hoạt động trong lĩnh vực đó, thì có thể gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người hoặc cho xã hội.
- Tòa án quyết định lĩnh vực cụ thể bị cấm kinh doanh hoặc cấm hoạt động.
- Thời hạn cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Cấm huy động vốn được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án huy động vốn thì có nguy cơ tiếp tục phạm tội. Các hình thức cấm huy động vốn bao gồm: Cấm vay vốn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc quỹ đầu tư; Cấm phát hành, chào bán chứng khoán; Cấm huy động vốn khách hàng; Cấm liên doanh, liên kết trong và ngoài nước; Cấm hình thành quỹ tín thác bất động sản.Thời hạn cấm huy động vốn là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Phạt tiền: áp dụng trong trường hợp không được áp dụng là hình phạt chính.
- Đối với mỗi tội phạm, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung. Các hình phạt nhìn chung chủ yếu tác động vào lợi ích kinh tế, tài chính của pháp nhân.
Trên đây là bài viết chia sẻ về vấn đề pháp nhân phạm tội đặc biệt là việc phân loại tội phạm pháp nhân theo quy định của pháp luật hiện hành luật Minh Khuê xin gửi tới bạn đọc. Mong rằng bài viết trên là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho bạn. Quý khách hàng có bất kỳ thắc mắc nào xin vui lòng liên hệ tổng đài 19006162 để được tư vấn và giải đáp trực tiếp hoặc gửi yêu cầu về địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Cảm ơn các bạn đã quan tâm theo dõi.