1. Quy định về người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Căn cứ tại khoản 3 và khoản 4 Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014),  người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.

 

2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài có được đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hay không?

 

Căn cứ vào Luật Nhà ở 2014, những chủ thể sau có quyền đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở:

- Tổ chức trong nước.

- Cá nhân trong nước.

- Hộ gia đình.

- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

- Tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều 159 của Luật này, cụ thể: 

+ Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan;

+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam (sau đây gọi chung là tổ chức nước ngoài);

+ Cá nhân nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam.

Theo đó,người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn thuộc trường hợp được đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

Tại Khoản 1 Điều 186 Luật Đất đai 2013 có nêu: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng có quyền sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở thì có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.”

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài có được nhận thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất nếu đáp ứng được điều kiện nêu tại khoản 1 Điều 186 Luật Đất đai nêu trên, ngược lại nếu không thuộc đối tượng tại khoản 1 Điều 186 thì chỉ được hưởng giá trị của phần thừa kế đó.

Căn cứ tại điểm b khoản 2 Điều 8 Luật Nhà ở năm 2014 quy định về điều kiện công nhận quyền sở hữu nhà ở đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài như sau:

" Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì thông qua hình thức mua, thuê nhà ở thương mại của doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh bất động sản ( sau đây gọi chung là doanh nghiệp kinh doanh bất động sản); mua, nhận tặng cho, nhận đổi, nhận thừa kế nhà ở của hộ gia đình, cá nhân; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án đầu tư xây dựng nahf ở thương mại được phép bán nền để tự tổ chức xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật"

Như vậy người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quyền đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở nhưng phải đáp ứng điều kiện nêu trên. Ngoài ra pháp luật chưa có quy định nào cho phép người nước ngoài/ người Việt Nam định cư ở nước ngoài được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, những đối tượng này chỉ được sở hữu nhà ở và theo quy định tại Điều 186 Luật đất đai  nêu trên thì điều kiện cần thiết là trên đất phải có nhà ở thì những đối tượng này mới có thể đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng với đất đã có nhà

 

3. Các trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo quy định tại Điều 5 Luật Đất đai năm 2013, người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về quốc tịch là đối tượng sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai.

Theo quy định tại Điều 169 Luật Đất đai năm 2013 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài được nhận quyền sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:

- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được nhận chuyển quyền sử dụng đất thông qua nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở được nhận chuyển quyền sử dụng đất ở thông qua hình thức mua, thuê mua, nhận thừa kế, nhận tặng cho nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở hoặc được nhận quyền sử dụng đất ở trong các dự án phát triển nhà ở.

Theo quy định tại Điều 8 Luật Nhà ở năm 2014 thì đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở Việt Nam thì phải được phép nhập cảnh vào Việt Nam và được có nhà ở hợp pháp thông qua hình thức mua, thuê mua nhà ở thương mại của doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh bất động sản; mua, nhận tặng cho, nhận đổi, nhận thừa kế nhà ở của hộ gia đình, cá nhân; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại được phép bán nền để tự tổ chức xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật.

- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được nhận quyền sử dụng đất thông qua việc Nhà nước giao đất.

- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được nhận quyền sử dụng đất thông qua việc Nhà nước cho thuê đất.

- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được nhận quyền sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành về tranh chấp đất đai được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền công nhận; thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp để xử lý nợ; quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, tố cáo về đất đai, quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án đã được thi hành; văn bản công nhận kết quả đấu giá quyền sử dụng đất phù hợp với pháp luật.

Như vậy, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được nhận quyền sử dụng đất thông qua hình thức mua, thuê mua, nhận thừa kế, nhận tặng cho nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở; nhận quyền sử dụng đất ở trong các dự án phát triển nhà ở; được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc theo quyết định công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 

4. Quyền của người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Căn cứ tại Khoản 1 Điều 10 Luật Nhà ở 2014 quy định, Đối với chủ sở hữu nhà ở là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì có các quyền sau đây:

- Có quyền bất khả xâm phạm về nhà ở thuộc sở hữu hợp pháp của mình;

- Sử dụng nhà ở vào mục đích để ở và các mục đích khác mà luật không cấm;

- Được cấp Giấy chứng nhận đối với nhà ở thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình theo quy định của Luật này và pháp luật về đất đai;

- Bán, chuyển nhượng hợp đồng mua bán, cho thuê, cho thuê mua, tặng cho, đổi, để thừa kế, thế chấp, góp vốn, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở; trường hợp tặng cho, để thừa kế nhà ở cho các đối tượng không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì các đối tượng này chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó;

- Sử dụng chung các công trình tiện ích công cộng trong khu nhà ở đó theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.

Trường hợp là chủ sở hữu nhà chung cư thì có quyền sở hữu, sử dụng chung đối với phần sở hữu chung của nhà chung cư và các công trình hạ tầng sử dụng chung của khu nhà chung cư đó, trừ các công trình được xây dựng để kinh doanh hoặc phải bàn giao cho Nhà nước theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê mua nhà ở;

- Bảo trì, cải tạo, phá dỡ, xây dựng lại nhà ở theo quy định của Luật này và pháp luật về xây dựng;

- Được bồi thường theo quy định của luật khi Nhà nước phá dỡ, trưng mua, trưng dụng nhà ở hoặc được Nhà nước thanh toán theo giá thị trường khi Nhà nước mua trước nhà ở thuộc sở hữu hợp pháp của mình vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai;

- Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với các hành vi vi phạm quyền sở hữu hợp pháp của mình và các hành vi khác vi phạm pháp luật về nhà ở.

 

 

Trên đây là bài viết của Luật Minh khuê. Nếu có vướng mắc liên quan đến bài viết nêu trên, khách hàng hãy gọi 1900.6162 để được tư vấn hỗ trợ qua tổng đài.