1. Quy định về các khoản thu của ngân sách xã hưởng 100%
Căn cứ theo quy định tại Điều 9 của Thông tư 344/2016/TT-BTC về nguồn thu của ngân sách xã, các khoản thu của ngân sách xã được chia thành hai loại chính:
- Các khoản thu 100%: Đây là các khoản thu được xã sử dụng toàn bộ để tự quản lý và đảm bảo chi tiêu cho các mục đích như chi thường xuyên và đầu tư phát triển. Các khoản thu này bao gồm: Phí và lệ phí thuộc thẩm quyền thu của xã; Thu nhập từ các hoạt động kinh doanh của xã, sau khi đã nộp phần thuế vào ngân sách nhà nước; Thu từ quản lý và sử dụng đất công ích và các tài sản công cộng khác; Tiền phạt và thu khác liên quan đến vi phạm hành chính, do cấp xã thực hiện; Thu từ tài sản công cộng được chuyển sang sở hữu của xã, sau khi trừ đi các chi phí pháp lý và quản lý; Các khoản huy động và đóng góp từ cộng đồng, tổ chức và cá nhân để đầu tư vào cơ sở hạ tầng theo quyết định của Hội đồng nhân dân xã; Viện trợ không hoàn lại từ tổ chức quốc tế và các cá nhân nước ngoài; Thu từ kết dư ngân sách xã năm trước; Thu từ chuyển nguồn ngân sách cấp xã từ năm trước; Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
- Các khoản thu như thuế sử dụng đất, lệ phí môn bài và lệ phí trước bạ thường được phân chia giữa ngân sách xã và ngân sách cấp trên (thị trấn hoặc cấp tỉnh) theo tỷ lệ phần trăm (%) được quy định. Tuy nhiên, tỷ lệ này có thể được điều chỉnh tối đa lên đến 100% cho ngân sách xã nếu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, dựa trên khả năng thực tế của nguồn thu và nhu cầu chi của xã. Ví dụ, nếu tỷ lệ phần trăm (%) được quy định ban đầu là 70% cho ngân sách xã và 30% cho ngân sách cấp trên, nhưng sau đó Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định tăng tỷ lệ này lên 100% cho ngân sách xã, thì tất cả các khoản thu từ các nguồn thu nêu trên sẽ được hưởng và sử dụng độc quyền bởi ngân sách xã. Điều này cung cấp linh hoạt cho các cấp quản lý địa phương để điều chỉnh phân bổ nguồn thu theo nhu cầu và điều kiện cụ thể của họ.
- Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách xã: Bao gồm thu bổ sung cân đối và thu bổ sung với mục tiêu cụ thể. Thu bổ sung cân đối là các khoản thu được chuyển từ ngân sách cấp trên sang ngân sách xã nhằm cân đối ngân sách của xã, giúp đảm bảo rằng ngân sách xã có đủ nguồn lực để thực hiện các chương trình, nhiệm vụ được giao mà không gặp khó khăn về tài chính. Các khoản thu này có thể bao gồm hỗ trợ tài chính định kỳ hoặc không định kỳ từ cấp trên đến xã để giúp bổ sung nguồn thu cho xã. Thu bổ sung với mục tiêu cụ thể là các khoản thu được chuyển từ ngân sách cấp trên sang ngân sách xã với mục tiêu cụ thể, thường là để hỗ trợ hoặc đầu tư vào các dự án, chương trình, hoặc mục tiêu quan trọng mà xã cần thực hiện. Các khoản thu này có thể được quy định và phân bổ theo các tiêu chí như mức độ phát triển kinh tế, dân số, hoặc nhu cầu đặc biệt của xã. Việc có các khoản thu bổ sung từ ngân sách cấp trên là một phần quan trọng trong việc hỗ trợ và phát triển các địa phương nhỏ hơn, đồng thời đảm bảo rằng các nhiệm vụ và chương trình của họ có thể được thực hiện một cách hiệu quả và bền vững.
- Ngoài các khoản thu đã quy định, không được phép đặt ra các khoản thu trái pháp luật.
2. Các khoản chi thường xuyên của ngân sách xã
Căn cứ theo quy định tại Điều 10 của Thông tư 344/2016/TT-BTC, các khoản chi thường xuyên của ngân sách xã bao gồm:
- Chi phục vụ quốc phòng: Chi thực hiện các chính sách đối với lực lượng dân quân tự vệ và các chi phí khác liên quan đến dân quân tự vệ theo quy định của Luật dân quân tự vệ; Chi thực hiện việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, các công việc khác liên quan đến nghĩa vụ quân sự theo quy định của Luật nghĩa vụ quân sự; và các chi phí khác theo quy định của pháp luật;
- Chi phục vụ an ninh và trật tự an toàn xã hội: Chi tiêu cho các hoạt động tuyên truyền, vận động và tổ chức phong trào bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã; và các chi phí khác theo quy định của pháp luật;
- Chi phục vụ sự nghiệp giáo dục: Hỗ trợ các hoạt động giáo dục, đào tạo trên địa bàn xã; d) Chi phục vụ nhiệm vụ ứng dụng, chuyển giao công nghệ (không bao gồm nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ);
- Chi phục vụ sự nghiệp y tế: Hỗ trợ các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn xã; e) Chi phục vụ hoạt động văn hóa, thông tin;
- Chi phục vụ hoạt động phát thanh, truyền thanh; Chi phục vụ hoạt động thể dục, thể thao; Chi phục vụ hoạt động bảo vệ môi trường, bao gồm việc thu gom, xử lý rác thải;
- Chi phục vụ các hoạt động kinh tế bao gồm: Duy trì, bảo dưỡng, sửa chữa, cải tạo các công trình phúc lợi, cơ sở hạ tầng, và các công trình khác do xã quản lý; Hỗ trợ và khuyến khích phát triển các hoạt động kinh tế như: khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm theo quy định; và các hoạt động kinh tế khác;
- Chi phục vụ hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội; hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp theo quy định của pháp luật: Chi phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước: Chi phục vụ tiền lương cho cán bộ, công chức; tiền công lao động và phí hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân; Các khoản phụ cấp khác theo quy định của Nhà nước; các chi phí liên quan đến công tác, văn phòng như: điện, nước, văn phòng phẩm, phí bưu điện, điện thoại, hội nghị, chi phí tiếp tân, khánh tiết; các chi phí mua sắm, sửa chữa định kỳ cho trụ sở, phương tiện làm việc và tài sản cố định khác; đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn cho cán bộ xã và các đối tượng khác theo quy định; và các chi phí khác theo quy định
3. Quy định về kiểm tra, giám sát, công khai hoạt động của ngân sách xã
Dựa trên Điều 14 của Thông tư 344/2016/TT-BTC về kiểm tra, giám sát và công khai hoạt động ngân sách xã, quy định như sau:
- Hội đồng nhân dân xã chịu trách nhiệm giám sát việc thu và chi của ngân sách xã. Vai trò này của hội đồng nhân dân xã là một phần quan trọng trong hệ thống quản lý ngân sách địa phương và đảm bảo sự minh bạch, minh bạch và hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực công.
- Cơ quan tài chính cấp trên có trách nhiệm kiểm tra và hướng dẫn công tác quản lý ngân sách xã. Vai trò của cơ quan tài chính cấp trên trong việc này là đảm bảo rằng các địa phương, bao gồm cả các xã, thực hiện quản lý ngân sách một cách chính xác, minh bạch và hiệu quả.
- Việc giám sát ngân sách của cộng đồng được thực hiện theo quy định tại Điều 52 của Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2016 của Chính phủ, điều này quy định cụ thể về việc thi hành Luật ngân sách nhà nước. Điều này nhấn mạnh vai trò quan trọng của cộng đồng trong việc giám sát và phản biện về việc sử dụng ngân sách, từ đó đảm bảo sự minh bạch, công bằng và hiệu quả trong quản lý ngân sách.
- Công khai về tài chính - ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác của xã được thực hiện theo quy định tại các thông tư của Bộ Tài chính, hướng dẫn về việc công khai ngân sách nhà nước. Việc công khai thông tin về tài chính và ngân sách của xã là một phần quan trọng của việc xây dựng sự minh bạch và trách nhiệm trong quản lý ngân sách địa phương, giúp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quản lý công và giúp đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách.
Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết: Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là gì? Tại sao cần thiết?.
Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!