1. Nguyên tắc thưởng vượt thu

Tỷ lệ thưởng không quá 30% của số tăng thu phần ngân sách trung ương được hưởng, nhưng không vượt quá số tăng thu so với mức thực hiện năm trước.

Mới đây, về số thưởng vượt dự toán thu và đầu tư trở lại cho các địa phương, Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội đã nhất trí với đề nghị của Chính phủ, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội không xét thưởng vượt thu năm 2020 đối với 3 địa phương: Hưng Yên, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu.

Đồng thời, không thực hiện đầu tư trở lại cho các địa phương có cơ chế tài chính đặc thù (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ). Lý do là căn cứ quy định của Luật Ngân sách nhà nước, không có nguồn tăng thu của ngân sách trung ương đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, không bảo đảm được nguyên tắc tổng thu ngân sách trung ương tăng so với dự toán Quốc hội quyết định.

Nguyên tắc xét thưởng vượt dự toán thu ngân sách nhà nước được quy định như đã nêu ở trên.

Được biết, tại nhiều địa phương cũng đã ban hành nghị quyết về thưởng vượt thu ngân sách. Nguồn thưởng vượt thu thường để đầu tư xây dựng các chương trình, dự án kết cấu hạ tầng, thực hiện các nhiệm vụ quan trọng của địa phương và thưởng cho ngân sách cấp dưới.

2.Thưởng vượt dự toán thu ngân sách nhà nước

1. Thưởng vượt dự toán phần ngân sách trung ương được hưởng từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, trừ tăng thu của ngân sách địa phương do phát sinh nguồn thu từ dự án mới đi vào hoạt động trong thời kỳ ổn định ngân sách phải nộp về ngân sách trung ương theo quy định tại điểm d khoản 7 1. Điều 9 Luật ngân sách nhà nước:

a) Nguyên tắc xét thưởng:

Tổng số thu của ngân sách trung ương phải tăng so với dự toán Quốc hội quyết định;

Căn cứ xét thưởng cho từng địa phương là tổng các khoản thu phân chia trên địa bàn địa phương, không tính riêng từng khoản thu. Tỷ lệ thưởng không quá 30% của số tăng thu phần ngân sách trung ương được hưởng, nhưng không vượt quá số tăng thu so với mức thực hiện năm trước;

3.Ví dụ về thưởng vượt dự toán ngân sách nhà nước

Ví dụ 1:

Tổng dự toán thu ngân sách trung ương năm xét thưởng được Quốc hội quyết định là 1.000.000 tỷ đồng. Kết quả thực hiện đạt 1.200.000 tỷ đồng.

Tại tỉnh A, số thu (ngân sách trung ương) từ các khoản thu phân chia thực hiện năm trước là 500 tỷ đồng. Năm xét thưởng, dự toán thu ngân sách trung ương được giao là 550 tỷ đồng, kết quả thực hiện đạt 600 tỷ đồng. Tỷ lệ thưởng trên số thu vượt dự toán giao theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ của tỉnh A là 30%. Mức thưởng cho tỉnh A xác định như sau:

Số thưởng theo tỷ lệ: (600 tỷ đồng - 550 tỷ đồng) x 30% = 15 tỷ đồng.

Số tăng thu so với thực hiện năm trước: 600 tỷ đồng - 500 tỷ đồng = 100 tỷ đồng.

Do số tăng thu so với thực hiện năm trước lớn hơn số tăng thu theo dự toán và tổng số thu ngân sách trung ương tăng so dự toán, nên mức thưởng thu vượt dự toán cho tỉnh A là không quá 15 tỷ đồng. Trường hợp kết quả thực hiện tổng thu ngân sách trung ương chỉ đạt hoặc thấp hơn 1.000.000 tỷ đồng, thì địa phương không được thưởng.

Ví dụ 2:

Vẫn như tổng dự toán ngân sách trung ương và số thu tại tỉnh A tại ví dụ 1, nếu kết quả thực hiện năm trước là 590 tỷ đồng; dự toán thu được giao là 550 tỷ đồng, kết quả thực hiện 600 tỷ đồng.

Số thưởng theo tỷ lệ: (600 tỷ đồng - 550 tỷ đồng) x 30% = 15 tỷ đồng.

Số thưởng vượt thu so với thực hiện năm trước: 600 tỷ đồng - 590 tỷ đồng = 10 tỷ đồng.

Số được thưởng tối đa chỉ bằng mức tăng thu so với thực hiện năm trước là 10 tỷ đồng và tổng số thu ngân sách trung ương tăng so dự toán. Trường hợp kết quả thực hiện tổng thu ngân sách trung ương chỉ đạt hoặc thấp hơn 1.000.000 tỷ đồng, thì địa phương không được thưởng.

Ví dụ 3:

Vẫn như số thu của tỉnh A tại ví dụ 1, nếu kết quả thực hiện năm trước là 610 tỷ đồng, dự toán thu được giao là 550 tỷ đồng, kết quả thực hiện là 600 tỷ đồng.

Số thưởng theo tỷ lệ: (600 tỷ đồng - 550 tỷ đồng) x 30% = 15 tỷ đồng.

Số tăng thu so thực hiện năm trước: 600 tỷ đồng - 610 tỷ đồng = - 10 tỷ đồng.

Địa phương không được thưởng vì số thu không tăng so thực hiện năm trước.

b) Căn cứ kết quả thu ngân sách đến thời điểm 31 tháng 12, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm tổng hợp số thực nộp ngân sách trung ương từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương theo quy định, lập báo cáo có xác nhận của Kho bạc Nhà nước, gửi về Bộ Tài chính trước ngày 31 tháng 01 năm sau làm cơ sở xét thưởng;

c) Bộ Tài chính tổng hợp, lập phương án sử dụng nguồn tăng thu ngân sách trung ương trình Chính phủ, trình Ủy ban thường vụ Quốc hội theo quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật ngân sách nhà nước;

d) Các địa phương sử dụng tiền thưởng vượt thu theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 59 Luật ngân sách nhà nước và khoản 8 Điều 36 Nghị định số 163/2016/NĐ-CP của Chính phủ.

2. Việc thưởng vượt dự toán thu các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách ở địa phương, thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 59 Luật ngân sách nhà nước và khoản 6 Điều 36 Nghị định số 163/2016/NĐ-CP của Chính phủ.

4.Chế độ báo cáo tình hình chấp hành ngân sách nhà nước

1. Việc báo cáo tình hình chấp hành ngân sách nhà nước thực hiện theo quy định tại Điều 60 Luật ngân sách nhà nước và Điều 41 Nghị định số 163/2016/NĐ-CP của Chính phủ.

2. Thời hạn báo cáo và mẫu biểu báo cáo:

a) Cơ quan thuế và cơ quan hải quan các cấp định kỳ 15 ngày, hằng tháng, hằng quý báo cáo cơ quan tài chính cùng cấp về thực hiện thu ngân sách nhà nước theo mẫu biểu số 53 phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này; báo cáo các cơ quan có liên quan khác về thực hiện thu ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;

b) Đơn vị dự toán cấp I định kỳ hằng quý báo cáo cơ quan tài chính cùng cấp về thực hiện thu, chi ngân sách nhà nước theo mẫu biểu số 54 phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này; báo cáo các cơ quan có liên quan khác về thực hiện thu, chi ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;

c) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh định kỳ hằng tháng, hằng quý báo cáo Bộ Tài chính về thực hiện thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, thực hiện thu, chi ngân sách địa phương theo mẫu biểu số 55 đến mẫu biểu số 57 phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này;

d) Bộ Tài chính định kỳ hằng tháng báo cáo Chính phủ về thực hiện thu, chi ngân sách nhà nước theo mẫu biểu số 50 đến mẫu biểu số 52 phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này; báo cáo các cơ quan có liên quan khác về thực hiện thu, chi ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;

đ) Ủy ban nhân dân các cấp báo cáo Hội đồng nhân dân và Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp tình hình thực hiện ngân sách địa phương theo quy định tại khoản 5 Điều 60 Luật ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn Luật ngân sách nhà nước;

e) Bộ Tài chính báo cáo Chính phủ trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội việc điều chỉnh dự toán, phương án sử dụng số tăng thu, tiết kiệm chi của ngân sách trung ương và tình hình thu, chi ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 8 Điều 60 Luật ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn Luật ngân sách nhà nước;

g) Bộ Tài chính có quy định riêng về thời hạn và mẫu biểu Kho bạc Nhà nước định kỳ báo cáo cơ quan tài chính cùng cấp về thực hiện thu, chi ngân sách nhà nước;

h) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định về thời hạn và mẫu biểu báo cáo quy định tại khoản 4 và khoản 6 Điều 60 Luật ngân sách nhà nước.

5.Công tác lập và chấp hành Ngân sách Nhà nước

Sau ngày thống nhất Tổ quốc, công tác lập và chấp hành Ngân sách quy định tại Điều lệ ban hành theo Nghị định số 168/CP ngày 20/10/1961 đã sớm được triển khai thống nhất, phù hợp với những đặc điểm kinh tế - xã hội của cả nước.

Trong khâu lập Ngân sách, do đặc điểm còn lưu hành hai đồng tiền, nên đầu năm 1996, dự thảo Ngân sách Nhà nước được xây dựng và chia làm hai phần: Phần thực hiện ở miền Bắc và phần thực hiện ở miền Nam. Tháng 7/1976, sau khi bầu cử Quốc hội khoá V và hoàn thành thống nhất Tổ quốc về mặt Nhà nước, theo phương hướng nhiệm vụ kinh tế - xã hội điều chỉnh. Hội đồng Chính phủ đã thông qua Ngân sách Nhà nước điều chỉnh theo đồng tiền quy đổi chung của cả nước. Trình tự lập Ngân sách, phê chuẩn Ngân sách, thông báo Ngân sách được tổ chức thực hiện cùng một lúc với trình tự xây dựng kế hoạch kinh tế - xã hội của cả nước.

Tuy nhiên công tác lập Ngân sách còn những mặt hạn chế, dự toán chưa được tổng hợp từ cơ sở và chưa kết hợp chặt chẽ giữa kế hoạch tài chính và kế hoạch hiện vật. Khâu lập Ngân sách thường được tổng hợp trên cơ sở dự toán thu chi của các Bộ, các địa phương. Song ở những bước tiếp theo do phải lo đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của Chính phủ, Quốc hội hơn là xem xét tình hình thực tế của các Bộ, các địa phương và cơ sở nên Ngân sách thiếu căn cứ thực tiễn. Trong mối quan hệ giữa kế hoạch hiện vật với giá trị, thường xuất hiện mâu thuẫn trong lĩnh vực kế hoạch hóa đầu tư XDCB do kế hoạch tài chính không thoả mãn đủ nguồn vốn để thực hiện kế hoạch hoá khối lượng.

Khâu chấp hành Ngân sách căn cứ theo kế hoạch Quốc hội phê chuẩn và Thông báo của Chính phủ, ngành tài chính thực hiện thống nhất trong cả nước, thông qua việc điều hành thu chi quý, tháng của Ngân sách Nhà nước. Cùng với việc xây dựng và củng cố tổ chức bộ máy ngành tài chính, Ngân sách các tỉnh/thành phố, nhất là các tỉnh miền Nam đã từng bước đi vào nề nếp, giúp cho việc quản lý Ngân sách được thông suốt trong cả nước. Nét nổi bật trong giai doạn này là mặc dù bị bão lụt nặng nề trong năm 1977 và chiến tranh biên giới liên tiếp trong các năm 1978 và 1979, nhưng Ngân sách đã đáp ứng được những nhu cầu chi tiêu đột xuất khá lớn để giúp đỡ nhân dân khôi phục sản xuất và ổn định đời sống sau thiên tai, địch hoạ.

Quá trình chấp hành Ngân sách cũng còn nhiều hạn chế: về thu do tổ chức bộ máy thu chưa đủ mạnh, việc quản lý nguồn thu còn lỏng lẻo, nhất là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Nên thất thu còn lớn, nhất là về thuế lợi tức siêu ngạch và các hộ tư thương ở các tỉnh miền Nam. Về chi: nhiều định mức tiêu chuẩn, chế độ chi tiêu hành chính sự nghiệp chưa được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội ở cả hai miền.

Công tác hạch toán, kế toán Ngân sách cũng từng bước được tăng cường củng cố, phản ánh đúng nội dung thu chi của các đơn vụ dự toán các ngành, các địa phương theo mục lục ngân sách Nhà nước. Chế độ kế toán Ngân sách, chế độ kế toán kho bạc và chế độ kế toán các đơn vị dự toán được thi hành thống nhất trong cả nước. Việc tổng hợp và trình tổng quyết toán Ngân sách Nhà nước để Quốc hội phê chuẩn được đảm bảo cả về mặt nội dung và thời gian. Nhưng so với yêu cầu thì việc quyết toán Ngân sách vẫn là khâu yếu nhất. Do báo cáo quyết toán của các đơn vị, địa phương không đẩy đủ và kịp thời, nên có trường hợp cơ quan tài chính phải chấp nhận số liệu đơn vị lĩnh tiền ở Ngân hàng Nhà nước (bộ phận quản lý quỹ Ngân sách các cấp) để làm số quyết toán chi Ngân sách Nhà nước.