Khối lượng tiền tệ (money slock) là tổng giá trị của tất cả mọi thứ có thể thực hiện các chức năng của tiền như phương tiện trao đổi, đơn vị tính toán (hay tiêu chuẩn của giá trị), phương tiện cất giữ giá trị và tiêu chuẩn trả tiền sau. Khối lượng tiền tệ danh nghĩa là tổng giá trị danh nghĩa hay giá trị hiện hành của các đồng tiền nằm trong khối lượng tiền tệ và thường được ký hiệu là M, còn khối lượng tiền tệ thực tế là sức mua của khối lượng tiền tệ danh nghĩa và được tính bằng cách lấy khối lượng tiền tệ danh nghĩa chia cho mức giá (M/P). Có nhiều định nghĩa khác nhau về khối lượng tiền tệ như:
MI: bao gồm tiền mặt, tiền gửi không kỳ hạn, s
1. Thế nào là khối lượng tiền tệ?
Tiền tệ (Currency) là phương tiện trao đổi hàng hóa và dịch vụ được chấp nhận thanh toán trong một khu vực nhất định hoặc giữa một nhóm người cụ thể. Còn khối lượng tiền tệ (tên tiếng anh là money slock), hay còn được gọi là cung tiền tệ, là tổng số tiền mà các tài khoản tiền tệ trong nền kinh tế có sẵn. Khối lượng tiền tệ được ước tính dựa trên đồng tiền pháp lý có hiệu lực được phát hành bởi Ngân hàng trung ương và các tổ chức tài chính khác trong nền kinh tế. Khối lượng tiền tệ là một chỉ số quan trọng trong kinh tế và được theo dõi chặt chẽ bởi các nhà quản lý chính sách tiền tệ. Sự thay đổi trong khối lượng tiền tệ có thể ảnh hưởng đến giá cả, lạm phát, lãi suất và nền kinh tế nói chung.
Các nhà kinh tế phân tích lượng cung tiền và xây dựng các chính sách xoay quanh nó thông qua việc kiểm soát lãi suất và tăng hoặc giảm lượng tiền luân chuyển trong nền kinh tế. Phân tích khu vực công và khu vực tư nhân được thực hiện do cung tiền có thể tác động đến mức giá, lạm phát và chu kỳ kinh doanh. Tại Hoa Kỳ, chính sách của Cục Dự trữ Liên bang là yếu tố quyết định quan trọng nhất đến lượng cung tiền. Lượng tiền cung ứng còn được gọi là lượng tiền dự trữ.
Trong kinh tế học, cung tiền là tất cả tiền mặt và tiền tệ đang lưu thông trong một quốc gia. Cung tiền của một quốc gia có ảnh hưởng đáng kể đến tình hình kinh tế vĩ mô của một quốc gia, đặc biệt là liên quan đến lãi suất, lạm phát và chu kỳ kinh doanh. Ở Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang xác định mức cung ứng tiền tệ. Trong số các trường phái kinh tế phân tích chặt chẽ vai trò của cung tiền đối với sự ổn định kinh tế là Chủ nghĩa Tiền tệ và Lý thuyết Chu kỳ Kinh doanh của Áo.
Trong kinh tế vĩ mô, cung tiền (hay lượng tiền dự trữ) đề cập đến tổng khối lượng tiền mà công chúng nắm giữ tại một thời điểm cụ thể trong nền kinh tế. Có một số cách để định nghĩa “tiền”, nhưng các thước đo tiêu chuẩn thường bao gồm tiền tệ lưu thông và tiền gửi không kỳ hạn (tài sản dễ dàng tiếp cận của người gửi tiền trên sổ sách của các tổ chức tài chính).
Mối quan hệ giữa tiền và giá cả trong lịch sử gắn liền với lý thuyết lượng tiền. Có bằng chứng thực nghiệm rõ ràng về mối quan hệ trực tiếp giữa tăng trưởng cung tiền và lạm phát giá cả trong dài hạn, ít nhất là đối với sự gia tăng nhanh chóng lượng tiền trong nền kinh tế. Ví dụ, một quốc gia như Zimbabwe cung tiền của nó tăng cực kỳ nhanh chóng cũng chứng kiến sự tăng giá cực kỳ nhanh chóng (siêu lạm phát). Đây là một trong những lý do giải thích cho việc dựa vào chính sách tiền tệ như một phương tiện kiểm soát lạm phát.
2. Những khối lượng tiền tệ hiện có trong lưu thông
Việc định nghĩa tiền là một phương tiện trao đổi mới chỉ đưa ra một cách khái quát về tiền, nó chưa cho chúng ta biết rõ trong nền kinh tế hiện nay khối lượng của nó nhiều hay ít. Vì vậy người ta phải định nghĩa tiền bằng việc đưa ra các phép đo về khối tiền trong lưu thông. Có 3 thước đo khối tiền trong nền kinh tế được kí hiệu lần lượt là M1, M2, M3.
- Khối tiền giao dịch M1: phương tiện được sử dụng rộng rãi trong thanh toán và chi trả về hàng hoá và dịch vụ bao gồm: Tiền mặt trong lưu thông đó chính là bộ phận tiền mặt nằm ngoài hệ thống ngân hàng, tiền gửi không kì hạn tại các ngân hàng thương mại hay các tổ chức tín dụng, tiền gửi có thể phát hành séc tại các ngân hàng.
- Khối tiền mở rộng M2 : Khối tiền M2 sẽ bằng khối tiền M1 cộng với tiền gửi có kì hạn tại ngân hàng thương mại hay các tổ chức tài chính trung gian.
- Khối tiền tài sản M3: bằng khối tiền M2 cộng với trái khoán như hối phiếu, tín phiếu kho bạc .
Khối tiền M2 và M3 không được sử dụng như một công cụ trao đổi, nhưng chúng có tính thanh khoản cao. Tài sản tiền gửi có thể phát hành séc là tiền nhưng những tờ séc không phải là tiền (do khi những tờ séc phát hành thì khối tiền không đổi). Các thẻ tín dụng cũng không phải là tiền.
Những định nghĩa cụ thể này có thể kéo dài theo thời gian và có thể dài thêm (tới M6), nhưng nguyên tắc chung là ngân hàng trung ương đưa ra những định nghĩa cụ thể, chi tiết để phục vụ cho mục đích thống kê và lựa chọn khối lượng tiền tệ phù hợp nhất làm mục tiêu cho chính sách tiền tệ. Mặc dù số liệu về các khối tiền tệ được công bố và sử dụng vào những mục đích nhất định, nhưng việc đưa ra các phép đo lượng tiền chỉ có ý nghĩa khi nó vừa tập hợp được các phương tiện trao đổi trong nền kinh tế, vừa tạo cơ sở dự báo lạm phát và chu kỳ kinh doanh. Vì vậy, hiện nay một số nước đang nghiên cứu để đưa ra phép đo “tổng lượng tiền có tỷ trọng” trong đó mỗi loại tài sản có một tỷ trọng khác nhau tuỳ theo độ “lỏng” của nó khi cộng lại với nhau. Việc lựa chọn phép đo nào phụ thuộc vào nhận thức và khả năng của ngân hàng trung ương trong điều hành chính sách thực tế. Tuy nhiên, sử dụng trực tiếp trong các giao dịch làm phương tiện trao đổi chủ yếu là khối tiền M1. Vì vậy định nghĩa M1 được sử dụng thường xuyên khi nói tới cung - cầu tiền tệ.
3. Cách đo lường cung tiền tệ
Các loại tiền khác nhau trong cung tiền thường được phân loại là Ms, chẳng hạn như M0, M1, M2 và M3, tùy theo loại và quy mô của tài khoản mà công cụ này được lưu giữ. Không phải tất cả các cách phân loại đều được sử dụng rộng rãi và mỗi quốc gia có thể sử dụng các cách phân loại khác nhau. Lượng tiền cung ứng phản ánh các dạng thanh khoản khác nhau của mỗi loại tiền trong nền kinh tế. Nó được chia thành các loại khác nhau về tính thanh khoản hoặc khả năng chi tiêu.
Tại Hoa Kỳ, cung tiền được phân loại theo các tổng hợp tiền tệ khác nhau bao gồm M0, M1 và M2. Các chỉ số này được Cục Dự trữ Liên bang sử dụng để đo lường mức độ ảnh hưởng của các hoạt động thị trường mở đối với nền kinh tế. Cơ sở tiền tệ, hoặc M0, bằng tiền xu, giấy vật chất và dự trữ của ngân hàng trung ương. M1, thường là tổng hợp được sử dụng phổ biến nhất, bao gồm M0 ngoài tiền gửi không kỳ hạn và séc du lịch. Trong khi đó, M2, có thể được sử dụng như một chỉ báo cho lạm phát khi so sánh với GDP, bao gồm M1 bên cạnh tiền gửi tiết kiệm và thị phần tiền tệ.
Ví dụ, M1 còn được gọi là tiền hẹp và bao gồm tiền xu và tiền giấy đang lưu hành và các loại tiền tương đương khác có thể chuyển đổi dễ dàng thành tiền mặt. M2 bao gồm M1 và thêm vào đó là tiền gửi có kỳ hạn ngắn trong ngân hàng và một số quỹ trên thị trường tiền tệ. M3 bao gồm M2 ngoài tiền gửi dài hạn. Tuy nhiên, M3 không còn được Cục Dự trữ Liên bang đưa vào báo cáo. MZM, hay tiền có kỳ hạn bằng không, là một thước đo bao gồm các tài sản tài chính có kỳ hạn bằng 0 và có thể hoàn trả ngay lập tức bằng mệnh giá. Cục Dự trữ Liên bang phụ thuộc rất nhiều vào dữ liệu MZM bởi vì tốc độ của nó là một chỉ báo đã được chứng minh về lạm phát.
Ngoài ra, một số bài viết dưới đây của Luật Minh Khuê có thể giúp ích cho quý khách trong quá trình tìm hiểu thêm thông tin về khối lượng tiền tệ:
Tiền tệ là gì? Lịch sử hình thành, bản chất, chức năng tiền tệ?
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) là gì ? Tổ chức, mục đích Quỹ tiền tệ quốc tế
Quỹ thị trường tiền tệ (MONEY MARKET FUND - MMF) là gì ?
Hệ thống tiền tệ quốc tế là gì ? Chức năng, quá trình phát triển hệ thống tiền tệ quốc tế
Như vậy, trên đây là toàn bộ thông tin về Khối lượng tiền tệ (money slock) là gì? do Công ty Luật Minh Khuê biên soạn và muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!
éc du lịch và các khoản tiền gửi có thể viết séc khác.
A/2: bao gồm Ml và các khoản tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn ngắn, các hợp đồng mua lại (qua đêm), đồng đô la Châu Âu (qua đêm), số dư trong quỹ hỗ tương ngắn hạn ...
M3'. bao gồm M2 và các khoản tiền gửi có kỳ hạn dài, hợp đồng mua lại có kỳ hạn, đồng đô la Châu Âu (có kỳ hạn), số dư trong Quỹ hỗ tương ngắn hạn của các định chế tài chính ...
Những định nghĩa cụ thể này có thể thay đổi theo thời gian và có thể dài thêm (tới M6). Nhưng nguyên tắc chung là: ngân hàng trung ương đưa ra những định nghĩa cụ thể, chi tiết để phục vụ cho mục đích thống kê và lựa chọn khối lượng tiền tệ phù hợp nhất làm mục tiêu cho chính sách tiền tệ.