>> Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Giao thông trực tuyến, gọi:  1900.6162

 

Luật sư tư vấn:

1. Một số định nghĩa liên quan đến sản lượng hàng hóa luân chuyển

Khối lượng hàng hoá vận chuyển là khối lượng hàng hoá đã vận chuyển được trong kỳ, bất kể độ dài quãng đường vận chuyển là bao nhiêu. Đơn vị tính khối lượng hàng hóa vận chuyển là tấn (T), vận tải đường ống là mét khối (m3), nhưng quy đổi ra tấn để cộng chung khi tính tổng khối lượng vận chuyển. Khối lượng hàng hoá vận chuyển được tính theo trọng lượng thực tế của hàng hoá vận chuyển (kể cả bao bì nếu có). Khối lượng hàng hoá vận chuyển chỉ được tính sau khi kết thúc quá trình vận chuyển, đã vận chuyển đến nơi giao nhận theo quy định trong hợp đồng vận chuyển và làm xong thủ tục thực tế xếp trên phương tiện để tính khối lượng hàng hoá vận chuyển; đối với hàng hoá cồng kềnh vận chuyển bằng ô tô, trong điều kiện không thể cân đo trực tiếp được khối lượng thì tính theo thỏa thuận giữa chủ phương tiện và chủ hàng để tính khối lượng hàng hoá thực tế. 

- Khối lượng hàng hóa luân chuyển:

Là khối lượng vận tải hàng hoá tính theo hai yếu tố Khối lượng hàng hóa vận chuyển và cự ly (quãng đường) vận chuyển thực tế. Đơn vị tính là tấn – kilomet (tấn/km). Công thức tính:

Khối lượng hàng hóa luân chuyển (T.Km)  =  Khối lượng hàng hóa vận chuyển (T)  x  Cự ly vận chuyển thực tế (Km)

Như vậy, ký tự Tấn/km chính là khối lượng hàng hóa luân chuyển.

>> Bài viết tham khảo thêm: Mẫu báo cáo kết quả hoạt động vận chuyển hàng hóa (phụ lục 32) và Mẫu báo cáo kết quả hoạt động vận chuyển hành khách (phụ lục 31)

- Cự ly vân chuyển thực tế là quãng đường dùng làm căn cứ để tính giá vé đã được cơ quan có thẩm quyền công bố. Đố i với xe khách cho thuê theo hợp đồng vận tải chuyến thì lượng hàng khách vận tải tính như sau: mỗi hợp đồng chỉ tính một tính 1 lần hành khách vận chuyển theo số ghế phương tiện.

- Lượng hành khách vận chuyển, luân chuyển là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của các đơn vị vận tải hành khách. Lượng hành khách vận chuyển được tính bằng "lượt người", lượng hành khách luôn chuyển được tính bằng "lượt người.km".

Căn cứ để tính lượng hành khách vận chuyển là số lượng vé bán ra. Đối với vé chuyển thì mỗi vé tính một hành khách, cả vé miễn giảm cước cũng được coi là một vé. Đối với vé tháng thì quy ước mỗi ngày công chế độ trong tháng được tính 2 hành khách vận chuyển ( đối với chế độ làm việc một tầm ) và tính là 4 hành khách vận chuyển (đối với chế độ làm việc hai tuần). Tính theo chế độ làm việc một tuần hay hai tuần là căn cứ vào số khách thực tế làm việc hay hai tuần do cơ quan có thẩm quyền quy định.

Lượng hành khách luân chuyển là tích số cùa lượng hành khách vận chuyển và cự ly vận chuyển thực tế.

Công thức tính:

Số lượt hành khách luân chuyển ( Hk. Km )  = Số lượt khách vận chuyển ( Hk ) x Cự ly vận chuyển thực tế ( Km )

Đối với xe khách cho thuê theo hợp đồng vận tải chuyến thì lượt hành khách vận chuyển của mỗi hợp đồng chỉ tính 1 lần hành khách vận chuyển theo số ghế phương tiện.

- Khối lượng hàng hóa thông qua cảng là khối lượng hàng hóa thực tế xuất cảng và nhập cảng ( đơn vị tính là " tấn thông qua" ), trong đó: 

Khối lượng hàng hóa xuất cảng là số tấn hàng hóa thực tế đã được cảng xếp phương tiện đường biển hoặc đường sông trong phạm vi vùng biển hoặc vùng sông do cảng quản lý để vận chuyển đến các cảng khác.

Khối lượng hàng hóa nhập cảnh là số tấn hàng hóa thực tế do phương tiện đường biển hoặc đường sông vận chuyển từ các cảng khác đến vùng biển hoặc vùng sông do cảng quản lý và đã được bốc ra khỏi những phương tiện đó. 

Khối lượng hàng hóa thông qua cảng gồm: Hàng xuất khẩu, hàng nhập khẩu, hàng xuất nội, hàng nhập nội, hàng nước ngoài quá cảnh.

 

2. Lưu ý cách tính khối lượng hàng hóa luân chuyển

- Khối lượng hàng hóa luân chuyển là số lượng hàng hóa trong thực tiễn gồm có cả phần vỏ hộp được ghi trong hợp đồng luân chuyển hoặc được ghi trên phần vỏ hộp của hàng hóa đó.

- Đối với những hàng hóa rời thì sẽ địa thế căn cứ vào khối lượng riêng và số lượng thể tích hàng hóa thực tiễn được xếp trên phương tiện đi lại dùng để tính khối lượng. Đơn vị tính bằng tấn.

- Đối với những loại hàng hóa cồng kềnh được luân chuyển bằng xe hơi mà điều kiện kèm tho không hề cân đo theo cách trực tiếp được thì khối lượng này được thì hoàn toàn có thể tính bằng cách quy ước tính bằng 50 % tấn trọng tải của phương tiện đi lại hay thoản thuận với chủ phương tiện đi lại để có số lượng hàng hóa thực tiễn.

 

3. Vai trò vận tải đưởng biển trong luân chuyển hàng hóa

Khối lượng luân chuyển là một thuật ngữ được sử dụng trong giao thông đưởng biển. Vận tải đường biển là một giải pháo hữu hiệu nhất để phục vụ vận chuyển hàng hóa xuyên quốc gia, đặc biệt là từ châu lục này sang châu lục khác. Vận tải đường biển đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong trao đổi, buôn bán hàng hóa cả nội địa và quốc tế. Đường biển đã phát triển từ thời xa xưa, vì có ý nghĩa với vận chuyển hàng hóa nên đến ngày nay nó càng phát triển và không thể thiếu đối với mỗi quốc gia.

 

4. Ý nghĩa các khái niệm trong vận tải hàng hóa

Khối lượng hàng hóa thông qua cảng là con số thể hiện khối lượng hàng hóa thực tế được xuất cảng, nhập cảng với đơn vị tính được sử dụng là "tấn thông qua". Trong đó, có các khái niệm khối niệm khối lượng hàng hóa được sử dụng là:

- Khối lượng hàng hóa xuất cảng: là con số chỉ số tấn hàng hóa theo thực tế đã được đơn vị vận chuyển xếp lên phương tiện đường biển hay đường sông, mà khu vực này vẫn nằm trong phạm vi vùng biển, vùng sông do cảng quản lý để tiếp tục di chuyển tới các khu vực cảng khác.

- Khối lượng hàng hóa nhập cảng: là con số chỉ số tấn hàng hóa trên thực tế được phương tiện đường biển hay đường sông tiến hành vận chuyển từ càng khác đến khu vực vùng biển, vùng sông vẫn còn thuộc quản lý cảng và đã được bốc ra khỏi phương tiện đã di chuyển.

- Khối lượng hàng hóa được thông qua cảng sẽ bao gồm các loại: hàng xuất khẩu, hàng nhập khẩu, hàng nhập nội, hàng xuất nội và hàng nước ngoài quá cảnh.

 

5. Mô tả về tài sản bảo đảm là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh.

Việc mô tả về tài sản bảo đảm là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh được quy định tại khoản 2 điều 10 Thông tư 08/2018/TT-BTP hướng dẫn về đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm, hợp đồng và trao đổi thông tin về đăng ký biện pháp bảo đảm tại trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản của cục đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc bộ tư pháp ( có hiệu lực từ ngày 04/08/2018 ) theo đó:

Việc mô tả về tài sản bảo đảm là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh:

- Tên hàng hóa, chủng loại, số lượng, địa chỉ cụ thể của kho hàng hoặc các thông tin khác có liên quan đến hàng hóa đó;

- Trường hợp tài sản bảo đảm là phương tiện giao thông cơ giới và tài sản này là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc tài sản hình thành trong tương lai thì người yêu cầu đăng ký, ngươi thực hiện đăng ký không phải mô tả số khung của phương tiện giao thông trên biểu mẫu điện tử tương tác của hệ thống đăng ký trực tuyến, nhưng tại mục mô tả tài sản trên phiếu yêu cầu đăng ký hoặc trường mô tả trên biểu mẫu điện tử tương tác của hệ thống đăng ký trực tuyến phải mô tả tài sản có bảo đảm là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc là tài sản hình thành tronh tươnh lai;

- Tên cụ thể của quyền tài sản, căn cứ pháp lý phát sinh quyền, giá trị thành tiền của quyền tài sản ( nếu có ) hoặc các thông tin khác có liên quan đến quyền tài sản đó trong trường hợp tài sản bảo đảm là quyền tài sản 

 

6. Thế chấp hành hóa tồn kho luân chuyển

Hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh theo quy định tại khoản 8 điều 3 nghị định số 163/2006 sửa đổi bổ sung bởi nghị quyết số 11/2012/NĐ-CP  của Chính phủ về giao dịch bảo đảm là động sản dùng để trao đổi, mua bán, cho thuê trong phạm vi hoạt động sản xuất, kinh doanh của bên bảo đảm. Cũng theo quy định tại khoản 1 điều 4 nghị định trên thì: " tài sản bảo đảm là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai mà pháp luật không cấm giao dịch ".

 

7. Hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh và kho hàng

Hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh và kho hàng được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có thể được mô tả theo giá trị tài sản hoặc theo loại hàng hóa. Việc mô tả đối với tài sản bảo đảm là kho hàng còn phải thể hiện được địa chỉ, số hiệu kho hoặc dấu hiệu khác của vị trí kho hàng. 

Hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh có thể là hàng hóa trong kho hoặc là hàng hóa đang tham gia quá trình sản xuất, kinh doanh.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.