Tôi là khu đội trưởng của 1 khu phố (thuộc lực lượng dân quân). Khoảng tháng 4/2014 có 1 thanh niên tên A có đến nhờ tôi giúp đỡ để khỏi đi nghĩa vụ quân sự, tôi có nói là tôi không đủ quyền hạn để thực hiện việc này, mà chắc phải đi nhờ mấy người khác, thanh niên A có hỏi khoảng bao nhiêu, tôi nói nhờ người khác chắc khoảng 3.000.000đ. 1 thời gian sau, tôi không biết chuyện gia đình thanh niên A và bên thứ 2 là như thế nào, nhưng chú tổ trưởng tổ dân phố đã kí xác nhận thanh niên A vắng mặt tại địa phương, bên cảnh sát khu vực và công an phường cũng không có ý kiến gì. Thanh niên A lại đến tìm tôi, đưa cho tôi 2.000.000đ và hỏi lại chuyện lần trước tôi nói, thanh niên A nói với tôi: "em mới có 2.000.000đ à, hôm bữa anh nói em 3.000.000đ hả, tôi nghe không rõ nên hỏi lại cái gì, thanh niên A nói hôm bữa anh nói 3.000.000đ hả, tôi nói ừ" . Vì nghĩ thực ra bản thân tôi không làm bất kì việc gì cho thanh niên A, nghĩ chắc là bồi dưỡng nên tôi đã nhận. Khi hội đồng nghĩa vụ quân sự phường công khai danh sách khám tuyển, thấy không có tên mình thanh niên A lại đưa cho tôi 2.000.000đ uống nước. Trong chuyện này tôi không làm bất kì việc gì cho thanh niên A, cũng không đủ thẩm quyền để thực hiện, vì nghĩ là bồi dưỡng nên tôi mới nhận. Vì khi thanh niên được kí xác nhận vắng mặt tại địa phương thì đã bị loại ra khỏi danh sách. Sau này có người biết chuyện này (3/2/2015) và đã ý kiến trước chi bộ, tôi cũng đã tường trình rõ ràng với chi ủy chi bộ, mặc dù nhiều lần hẹn gặp thanh niên A để trả lại số tiền nhưng thanh niên A không nhận, tôi cùng với đồng chí bí thư đến nhà nhưng gia đình thanh niên A cũng không nhận. tôi đã giao nộp số tiền này cho ủy ban kiểm tra đảng ủy phường. Mặc dù tôi đã đến gặp gia đình thanh niên A xin lỗi và xin trả lại số tiền, xin nhận hình thức kỉ luật của đảng của đơn vị, nhưng do gia đình thanh niên A nghe lời người đã kiến nghị tôi trước chi bộ nên đã làm đơn tố cáo ra ủy ban phường và công an phường. Hiện giờ tôi đã viết đơn xin nghỉ việc. Xin Luật Sư tư vấn giúp tôi, bản thân tôi đã vi phạm tội gì ? Hình thức phạt như thế nào ? Bây giờ tôi phải làm gì ? Thanh niên A, gia đình thanh niên A, và chú tổ trưởng tổ dân phố có vi phạm hay không ?

Xin chân thành biết ơn !

Người gửi: NTD

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn pháp luật dân sự, hình sự, hành chính gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Thưa quý khách hàng!

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

>> Xem thêm:  Tư vấn về lấy lại tiền chạy việc ?

Cơ sở pháp luật:

Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009)

Nội dung phân tích:

1.  Hành vi của bạn có phạm tội không?

Hành vi của bạn là nhận số tiền 4 triệu đồng từ thanh niên tên A, nhưng bạn không thực hiện việc gì cho người A này, đồng thời bạn cũng không có quyền hạn gì để thực hiện việc làm cho A. Do đó, hành vi của bạn không vi phạm quy định của pháp luật. Nếu xét về hành vi nhận hối lộ, hành vi của bạn cũng không thể cấu thành tội nhận hối lộ. Bởi theo quy định tại Điều 279 BLHS thì chủ thể của tội nhận hối lộ phải là người có chức vụ, quyền hạn trong vấn đề liên quan đến yêu cầu của người đưa hối lộ. Còn trường hợp của bạn, bạn không có thẩm quyền trong lĩnh vực mà người A yêu cầu, đồng thời bạn cũng không có vai trò trung gian nào cả. Do đó, hành vi của bạn không phạm tội. Cụ thể, khoản 1 Điều 279 BLHS quy định về tội nhận hối lộ như sau:

"1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm".

2. Hành vi của A có phạm tội không?

A đã có hành vi đưa hối lộ, Điều 289 Bộ luật Hình sự quy định như sau:

"1. Người nào đưa hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm:

>> Xem thêm:  Nhận tiền chạy việc xử lý ra sao ?

a) Có tổ chức;
b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
c) Dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ;
d) Phạm tội nhiều lần;
đ) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;
e ) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm:
a) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

>> Xem thêm:  Cách xử lý trường hợp chạy việc cho con nhưng không có kết quả?

a) Của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ.
6. Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.
Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ."

3. Hành vi của tổ trưởng tổ dân phố là thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.

Tổ trưởng tổ dân phố đã không hoàn thành trách nhiệm của mình, bằng việc đã kí xác nhận thanh niên A vắng mặt tại địa phương, nhưng trên thực tế không phải như vậy. Điều 285 Bộ luật hình sự quy định về tội này như sau:

"1. Người nào vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao gây hậu quả nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 144, 235 và 301 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.
2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm.
3. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

>> Xem thêm:  Nhận tiền chaỵ việc nhưng không được việc và người nhận tiền không trả lại tiền ?

Vì trong thông tin cung cấp, bạn không đưa ra bằng chứng Tổ trưởng tổ dân phố có nhận hối lộ để làm việc này hay không. Nên dựa trên thông tin thực tế được cung cấp, chúng tôi chỉ xác định được tội danh này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ

>> Xem thêm:  Tội làm trái các quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự (điều 261 BLHS) ?