Nhưng đến hết tháng 09/2010 ông B (bên vay) nói họ làm ăn thua lỗ nên hoãn trả lãi, 2 tháng sau nhà tôi yêu cầu họ trả cả nợ gốc nhưng không được. Sau đó họ trốn mất đến bây giờ không rõ ở đâu( đến thời điểm hiện tại nhà tôi cũng chưa báo công an) vậy luật sư có thể cho tôi hỏi là: Gia đình tôi có nên trình báo công an không? Bây giờ nhà tôi trình báo công an có còn được giải quyết không (vì theo tôi biết thì thời hiệu truy cứu tránh nhiệm hình sự với tội ít nghiêm trọng là 5 năm, mà đến thời điểm hiện tại là mới được 4 năm 10 tháng) ? Vụ án dân sự trong trường hợp này liệu còn được giải quyết (vì đã quá 2 năm theo quy định bộ luật dân sự) ?
Xin chân trọng cảm ơn!
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.
>>Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi:1900.6162
Trả lời:
Chào bạn,Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
Căn cứ pháp lý:
Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009
Bộ luật tố tụng dân sự 2004sửa đổi bổ sung 2011
Bộ luật tố tụng hình sự 2003
Nội dung tư vấn:
Điều 471 Bộ luật dân sự 2005 quy định: "Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định."
Hợp đồng vay tài sản được coi là hợp pháp khi đáp ứng đầy đủ các quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự 2005 bao gồm:
"1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;
c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.
2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định."
Về hình thức của hợp đồng vay tài sản, pháp luật dân sự hiện hành không có quy định cụ thể về hình thức của hợp đồng này, do đó, hợp đồng vay tài sản có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.
Như vậy gia đình bạn cho ông B vay số tiền 52 triệu và đã rút được 10 triệu tiền gốc nhưng nay ông B không trả và bỏ trốn khỏi địa phương.
Trách nhiệm của ông B:
- Về trách nhiệm dân sự
Bộ luật dân sự 2005 có quy định về thực hiện hợp đồng vay như sau:
"Điều 477. Thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn
1. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, nếu không có thoả thuận khác.
2. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý.
Điều 478. Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn
1. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý, còn bên cho vay chỉ được đòi lại tài sản trước kỳ hạn, nếu được bên vay đồng ý.
2. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, nếu không có thoả thuận khác."
Như vậy, nếu là vay có kỳ hạn thì khi đến hạn, bạn có thể đòi số tiền mình đã cho vay được.
Nếu là vay không kỳ hạn có lãi hay không có lãi thì khi bạn thông báo về việc trả tiền nhưng bên vay lại không đồng ý trả, tức là đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay.
Để bảo vệ quyền lợi của gia đình bạn có thể khởi kiện tại tòa án nhân dân cấp huyện nơi ông B cư trú hoặc nơi hợp đồng được thực hiện để giải quyết ( theođiều 35, 36Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011).
- Về trách nhiệm hình sự
Với việc vay tiền rồi bỏ trốn, ông B có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Nếu ngay từ đầu ông B đã dùng thủ đoạn gian dối để vay tiền của gia đình bạn rồi bỏ trốn thì có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theođiều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009"Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm".
Nếu ban đầu ông B không dùng thủ đoạn gian dối, mà vay tiền một cách hợp pháp nhưng trong quá trình kinh doanh thua lỗ, nên đã nảy sinh ý định bỏ trốn thì có thể cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điều 140 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009"Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản".
Ở đây, để bảo vệ quyền lợi chính đáng của gia đình, bạn có thể gửi đơn tố cáo đến cơ quan công an nơi bạn cư trú theo điều 84 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 "Tố giác và tin báo về tội phạm. Công dân có thể tố giác tội phạm với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án hoặc với các cơ quan khác của Nhà nước hoặc tổ chức xã hội. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác. Cơ quan hoặc tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản."
Sau khi xác định cơ quan có thẩm quyền, cơ quan công an sẽ làm thủ tục chuyển quyền điều tra vụ án cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.
Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận Tư vấn pháp luật dân sự.