1. Bị lừa tiền có khởi kiện đòi được không ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Khi phát hiện mình bị lừa đảo thì nên trình báo công an hay khởi kiện ra tòa ạ ? Cảm ơn!

Trả lời:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội (văn bản mới: Bộ luật dân sự năm 2015) quy định:

"Điều 290. Thực hiện nghĩa vụ trả tiền

1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thoả thuận.

2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thoả thuận khác."

Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 của Quốc Hội (văn bản mới: Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Thưa luật sư, xin hỏi: Em bị lừa gạt tiền từ một người đàn ông nước ngoài biết qua mạng facebook, em chỉ biết thông tin số diện thoại ở Mỹ và ở Ghana, em có biết địa chỉ ở Ghana, em liên hệ với họ bởi số họ cho, khi họ liên lạc cho em họ gọi tới chỉ toàn số như mạng mobi, mỗi lần là một số khác nhau, em không rõ về ID cua họ, em bi lừa gạt hết số tiền 69 triệu đồng trong 4 tháng, em gửi nhiều lần, em phát hiẹn lần cuối cùng em gửi là 15/7/2015 anh ta nói gửi tiền cho hai cháu là con của anh về Việt Nam, em phải gửi tiền qua Ghana, trước đó em có gửi thẻ visa qua cho bọn trẻ, từ Ghana về Việt Nam họ phải quá cảnh ở Dubai,anh ta nói họ đến Dubai nhưng vì lý do đi ăn trể nên lở chuyến bay, nói em chuyen tiền, và em đã chuyển, khi em gửi tiền, bọn nhỏ rút ở Ghana mà không phải ở Dubai, em kiểm tra hệ thống tài khoản cá nhân nên biết, em có chát hỏi ảnh qua facebook, anh ta lẫn tránh cả tuần này ,em nghi nghờ bị lừa gạt, bạn bè nói em đi cáo công an, em xin mẫu đơn trình báo và tư vấn giúp em.

=> Về mẫu đơn tố cáo, bạn có thể tham khảo TẠI ĐÂY . Bạn có thể gửi đơn lên cơ quan công an để tố cáo.

Khi làm đơn, người tố cáo phải làm đơn gửi đến cơ quan có thẩm quyền qua đường bưu điện hoặc đến trực tiếp cơ quan.

Trong đơn tố cáo cần có nội dung chính gồm:

+ Tên cơ quan nhận đơn;

+ Họ, tên, địa chỉ của người tố cáo;

+ Họ, tên, địa chỉ của người có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại (nếu có);

+ Họ, tên, địa chỉ của người bị tố cáo;

+ Họ, tên, địa chỉ của người có quyền và nghĩa vụ liên quan;

+ Nêu rõ hành vi vi phạm pháp luật của người bị tố cáo; những vấn đề cụ thể yêu cầu cơ quan tiếp nhận Đơn tố cáo giải quyết và các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc tố cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Thưa luật sư, xin hỏi: Ông NVV có mượn của em gái tôi số tiền là 100 triệu đồng, có giấy vay nợ viết tay với ngày hẹn là tháng 9/2014 sẽ trả. Tuy nhiên cho đến nay, dù em gái tôi đã đến nhà đòi nhiều lần nhưng ông ta cứ lấy lý do hẹn lần hẹn lữa, chưa chịu trả. Vì nghĩ chỗ quen biết nên em tôi không muốn làm lớn chuyện, kiện tụng. Cho đến ngày 15/12/2015 ức chế quá (em tôi một mình nuôi con nhỏ vì chồng cô ấy đã bỏ theo người khác.công việc làm ăn không thuận lợi, nợ nần người ta đòi) em tôi đã đánh 1 bản word, vẽ con dấu giả giấy triệu tập của tòa đưa cho ông NVV nhằm để ông ta thu xếp trả nợ. Nhưng ông ta phát hiện ra giấy tờ giả nên đã gửi lên tòa án. Vậy luật sư cho tôi hỏi em tôi có bị buộc vào tội giả mạo giấy tờ của cơ quan nhà nước không khi giấy tờ đó không nhằm mục đích lừa đảo hoặc gây ảnh hưởng đến quyền lợi, tài sản, của người khác. Nếu có thì mức hình phạt như thế nào?

=> Bộ luật hình sự quy định:

"Điều 267. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Thì trường hợp của bạn không có mục đích lừa dối cơ quan, tổ chức nên có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.

Thưa luật sư, xin hỏi: Năm 2013 Mẹ em tin tưởng đưa tiền cho em họ em làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi đưa 70 triệu đồng mà không làm bat cư giây tơ giao tiền (ly do la tin tưởng đứa cháu vi nó làm địa chính nơi co đất làm giấy chứng nhận QSD đất) đến nay no bảo không làm được giây tơ đất va tiền thi cứ hẹn hết lần này lần khác, gia đình em đến nhà bên chú (la cha mẹ đứa em họ) thi được trả lời là gia đình anh chị dư tiền nên đưa tiền cho nó, thích thì anh chị đi kiện đi vi không cho chứng cứ gi hết. Gia đình em giờ phải làm sao. Không chỉ có gia đình em bị lừa như vậy mà có rất nhiều hộ gia đình giống như nhà em, số tiền lên đến hơn 500 triệu. (Hiện tại người đó bị đuổi việc rồi) Mong các anh chi tư vấn giúp em. E cam ơn

=> Bạn tim cách để có thể ghi âm hoặc ghi video chứng minh người đó nợ tiền mẹ bạn và những gia đình khác. Sau đó bạn làm đơn tố cáo len cơ quan công an về vụ việc này.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi và cậu chồng tôi tính mua mì làm ăn chung(tiền hoàn toàn là của tôi) nhưng được nửa tháng thi không có lời lên cậu chồng tôi đã cầm tiền của tôi và nói mua cho tôi mì non và làm giấy tờ mua bán đưa cho tôi và kí tên vào giấy mua bán tên của tôi, tôi có hỏi số điện thoại của người bán và nói đưa tôi đi gặp ngươi bán nhưng cậu chồng tôi không đưa nói là tôi không tin ông, cho tới hôm nay thật sự thì không có đám mì nào cả tôi có đem đơn đê kiện thì ông viết cho tôi một tờ giấy rằng ông thiếu tiền của la 46.000.000 triệu đồng vì chót xài hết nên cho ông từ từ trả .tôi muốn hỏi như thế câu chồng tôi có phải lừa đảo không?

Vì cậu chồng bạn không có ý định bỏ trốn và vẫn hứa sẽ trả, chưa có dấu hiệu lừa đảo nên bạn có thể khởi kiện lên Tòa án dân sự yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

Trường hợp bạn không rút đơn trình báo thì công an vẫn phải giải quyết đơn của bạn. Còn việc cưỡng chế đối tượng hành hung về trụ sở không phải phụ thuộc vào việc 2 bên có hợp tác không, mức độ hành vi vi phạm, lỗi các bên...

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

2. Lừa bán người thì chịu bao nhiêu năm tù giam ?

Thưa luật sư, sau nhiều năm làm thuê ở khu vực biên giới, nhân dịp về quê ăn tết, T rủ 2 cháu M (15t), N (17t) (là người cùng xã) lên khu vực biên giới lạng sơn “làm thuê”. Đến lạng sơn T nói đưa M và N đi chơi nhưng thực chất là lén lút đưa M và N qua biên giới rồi bán hai cháu cho chủ chứa mại dâm người trung quốc lấy 40 triệu đồng.

Hành vi phạm tội của T được quy định tại khoản 2 điều 150 và khoản 2 điều 151 blhs. Câu hỏi: giả sử T mới 17 tuổi khi thực hiện hành vi phạm tội nêu trên thì hình phạt nặng nhất mà t có thể phải chịu là bao nhiêu năm tù ?

Cảm ơn.

- Cầm Thị Nh

Luật sư trả lời:

Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định như sau

Điều 150. Tội mua bán người

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc bằng thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;

b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Vì động cơ đê hèn;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;

đ) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

e) Đối với từ 02 đến 05 người;

g) Phạm tội 02 lần trở lên.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;

đ) Đối với 06 người trở lên;

e) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 151. Tội mua bán người dưới 16 tuổi

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

b) Lợi dụng hoạt động cho nhận con nuôi để phạm tội;

c) Đối với từ 02 người đến 05 người;

d) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;

đ) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

e) Phạm tội 02 lần trở lên;

g) Vì động cơ đê hèn;

h) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

i) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 3 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

d) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

đ) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;

e) Đối với 06 người trở lên;

g) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

Điều 101. Tù có thời hạn

Mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định như sau:

1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;

Vậy căn cứ vào quy định nêu trên , người phạm tội 17 tuổi , phạm tội theo khoản 2 điều 151 và khoản 2 điều 150 BLHS nêu trên thì tổng mức hình phạt tù cao nhất là 35 năm , người này phải chịu 3/4 hình phạt tù này thì người này chịu 26 năm 3 tháng . Nhưng theo điều 101 nêu trên , do đặc thù về độ tuổi nên mức hình phạt cao nhất mà tòa án được tuyên phạt cho người này chỉ là 18 năm tù .

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.0159 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

3. Cho ví dụ về một vụ án lừa đảo ?

Vụ án “siêu lừa” xảy ra tại Gia Lai, từng gây chấn động dư luận đã khép lại bằng Bản án Phúc thẩm ngày 27/7/2010 của Tòa Phúc thẩm – TANDTC tại Đà Nẵng, với mức án chung thân cho Mai Quý Thọ, Phạm Thị Én và 14 năm tù cho Mai Diêu Kiều Trinh. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng liên quan đến việc áp dụng các quy định của luật tố tụng cũng như luật nội dung cần phải được trao đổi, làm rõ.

Tòa án có vượt quá phạm vi xét xử ?

Theo Điều 196 BLTTHS, tòa chỉ có thể xét xử khác với quan điểm truy tố của Cáo trạng trong hai trường hợp: một là, “xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật”; hai là, “xét xử về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố”. Ngoài hai nội dung nêu trên, tất cả các vấn đề còn lại liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo đều phải được xét xử trên cơ sở phạm vi truy tố của Cáo trạng.

Trong vụ án này, Cáo trạng của VKSND tỉnh Gia Lai kết luận số tiền 8,5 tỷ đồng Én nhận của Phan Thị Hồng ngày 8/6/2007 là do Én chiếm đoạt và xác định Én là người thực hành trong vụ án. Thế nhưng, cả án sơ thẩm, phúc thẩm đều quy kết Thọ là người chiếm đoạt, Én chỉ là người giúp sức chứ không phải “người thực hành” như cáo trạng nêu. Việc này có vi phạm Điều 196 BLTTHS về giới hạn của việc xét xử không? Có làm xấu đi tình trạng pháp lý của bị cáo Thọ không? Đây là vấn đề hiện còn nhiều ý kiến khác nhau.

Về tách vụ án hay tách “hành vi”?

Theo lời khai của Thọ, trong tổng số tiền chiếm đoạt, Thọ đã sử dụng gần 33 tỷ đồng để trả tiền thua độ bóng đá cho một số đối tượng ở Đà Nẵng, Gia Lai, Nha Trang, Quy Nhơn và TP.HCM do thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá với các đối tượng này. Tại “Bản kết luận Điều tra” của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai cũng xác định: tổng số tiền Thọ chuyển cho các đối tượng qua hệ thống ngân hàng khoảng trên 25 tỷ đồng. Tuy nhiên, các đối tượng trên không thừa nhận hành vi đánh bạc với Thọ mà khai rằng đó là tiền Thọ vay mượn.

Như vậy, việc Thọ dùng số tiền chiếm đoạt để chuyển cho các đối tượng là hoàn toàn có thật. Vấn đề còn lại là cần xác định lý do của việc chuyển tiền này là gì? Trả tiền thua độ bóng đá, trả nợ hay là tẩu tán tài sản?

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.0159

Việc làm rõ các vấn đề trên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Một mặt nó đảm bảo được quyền lợi của người bị hại, mặt khác là tránh trường hợp bỏ lọt tội phạm. Theo đó, tùy thuộc vào kết quả điều tra, các đối tượng trên có thể sẽ bị khởi tố về hành vi “đánh bạc”, “che giấu tội phạm” hoặc tham gia tố tụng với tư cách “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” để xử lý số tiền mà họ đã nhận từ Thọ.

Như vậy, không thỏa đáng khi tách hành vi chuyển tiền của Thọ để xử lý bằng một vụ án khác như các cơ quan tố tụng đã làm. Bởi đây không phải là tiền của Thọ mà là tài sản do Thọ chiếm đoạt của bị hại, nên phải được làm rõ và xử lý trong cùng vụ án.

Thế nhưng, cả án sơ thẩm của TAND tỉnh Gia Lai và Phúc thẩm của Tòa Phúc thẩm – TANDTC tại Đà Nẵng đều chấp nhận quan điểm của Cáo trạng về việc “tách hành vi đánh bạc” ra khỏi vụ án. Như vậy, việc “tách hành vi đánh bạc” trong trường hợp này có đồng nghĩa với việc tách vụ án theo Điều 117 BLTTHS không? Nếu không thì cơ quan tố tụng căn cứ vào quy định nào để tách hành vi “đánh bạc” ?

Theo Điều 117 BLTTHS, CQĐT chỉ có thể nhập hoặc tách vụ án chứ không có quy định nào cho phép “tách hành vi” khi chưa xác định được hành vi đó có cấu thành tội phạm hay không? Nói khác, cơ quan tố tụng chỉ có thể tách vụ án khi đã có quyết định khởi tố vụ án. Trong trường hợp này, hành vi đánh bạc chưa bị khởi tố nên không thể thực hiện thủ tục tách vụ án. Còn nếu cho rằng, các cơ quan tố tụng chỉ “tách hành vi" chứ không phải “tách vụ án” thì rõ ràng đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, vì luật TTHS không có điều khoản nào cho phép “tách hành vi”.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội để quyết định mức bồi thường thiệt hại của từng bị cáo, liệu có đúng?

Về nguyên tắc, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự đối với các tội phạm về xâm phạm sở hữu nói chung, các cơ quan tiến hành tố tụng phải căn cứ vào giá trị tài sản bị chiếm đoạt, khoản tiền mà mỗi bị cáo được hưởng lợi để xem xét trách nhiệm hình sự cũng như quyết định mức bồi thường dân sự của từng bị cáo.

Thế nhưng, cả hai bản án sơ thẩm cũng như phúc thẩm không xác định số tiền cụ thể từng bị cáo chiếm đoạt (hay hưởng lợi) để quyết định mức bồi thường thiệt hại, mà căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội để quyết định mức bồi thường dân sự của từng bị cáo (?). Theo đó, bị cáo Thọ phải bồi thường 66%, bị cáo Én 30%, bị cáo Trinh 4% trên tổng số tiền bị chiếm đoạt là 71,38 tỷ đồng.

Đây là một vấn đề chưa từng có trong lịch sử tố tụng và hoàn toàn trái với các quy định của BLHS. Bởi tại Điều 45 BLHS quy định rõ: Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội chỉ là căn cứ để tòa án xem xét trong việc quyết định hình phạt chứ không phải là căn cứ để xác định trách nhiệm dân sự hay quyết định mức bồi thường thiệt hại như bản án phúc thẩm đã vận dụng.

Ngoài ra, cũng không có một văn bản pháp luật nào quy định tòa án xác định trách nhiệm dân sự hay quyết định mức bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự theo cách chia tỷ lệ phần trăm như đã nêu trên.

Áp dụng pháp luật là vấn đề luôn đòi hỏi sự chuẩn mực và chính xác từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng. Thực tiễn xét xử vụ án “Mai Quý Thọ cùng đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đã đặt ra nhiều vấn đề pháp lý có tính căn bản mà chúng tôi thiết nghĩ, cần phải được làm rõ để có một cách hiểu và vận dụng pháp luật thật sự chính xác.

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo

4. Tư vấn về việc lừa vay quỹ tín dụng để mời mua bảo hiểm

Thưa luật sư em có một thắc mắc như sau:.Gần nhà em có đại lý bán bảo hiểm (prudential) khi em đi làm về nhà người đại lý đến nhà cho vay tín dung đen để mời vợ em mua bảo hiểm, vợ em dân trí kém nên đã bị mắt lừa.
Cứ vào hàng tháng vợ em lấy tiền nóng bên ngoài đóng cho đại lý bảo hiểm, đến khi em phát hiện ra sự việt thì tiền nợ bên ngoài rất nhiều ,tiền đống bảo hiểm một năm là 11.300.000 toàn bộ hồ sơ bảo hiểm người đại lý tự ghi tự giả mạo chữ ký,vợ em chỉ có ký một chữ,bảo hiểm mua cả nhà hai vợ chồng và hai con ,trong hồ sơ bảo hiểm có chỗ đã xác nhận chữ ký nhưng em là người không ký,gia đình em kinh tế rất khó khăn,nhờ luật sư tư vấn giúp cho gia đình em ,sự việc như vậy người đai lý và doanh nghiệp bảo hiểm vi phạm ơ mức độ nào ?
Em xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: N.T.N

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo như nội dung thư mà bạn trình bày với chúng tôi, bên công ty bảo hiểm đa có một số thủ đoạn làm giả giấy tờ, tài liệu để nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản của gia đình bạn như: toàn bộ hồ sơ bảo hiểm người đại lý tự ghi tự giả mạo chữ ký, vợ bạn chỉ có ký một chữ, ...Với những hành vi như trên, bên đại lý có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Ngoài ra, nếu có một trong các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì còn bị xử lý như sau:

"1. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng."

Mức vi phạm cụ thể cần được xác minh dựa vào các tình tiết thực tế cũng như mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Việc xác định vấn đề này phải căn cứ vào kết quả điều tra trên thực tế.

Do vậy, trong trường hợp của bạn, khi phát hiện có dấu hiệu của hành vi phạm tội, bạn có thể tố giác đến cơ quan có thẩm quyền quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 như sau:

"Điều 84. Tố giác và tin báo về tội phạm.

Công dân có thể tố giác tội phạm với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án hoặc với các cơ quan khác của Nhà nước hoặc tổ chức xã hội. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan hoặc tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản."

Sau khi bạn tố giác, cơ quan chức năng sẽ tiến hành xác minh có hành vi vi phạm pháp luật hình sự hay không. Nếu có căn cứ, họ sẽ tiến hành khởi tố vụ án hình sự để ngăn chặn, trừng trị hành vi phạm tội đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho bạn. Tài sản mà bạn đã bị lừa đảo sẽ được trả lại cho bạn phù hợp với quy định của pháp luật.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với yêu cầu của bạn.

>> Xem thêm:  Có lấy lại được tiền khi đã bị lừa chuyển khoản mà không nhận được hàng đã đặt qua mạng ?

5. Đòi lại tài sản bị lừa tình phải tố cáo với cơ quan nào để được giải quyết ?

Chào luật sư, Xin tư vấn và giúp đỡ 1 vấn đề hiện nay tôi rất lo lắng tôi đang nghi ngờ minh đang bị lợi dụng trong chuyện tình cảm để chiếm đoạt tiền tôi có quen 1 cô gái qua mạng cách nay nửa năm, nhưng gặp chỉ 1 lần, tôi và cô này ở xa, tôi thì cần thơ còn cô này ở Bến Tre. thời gian đầu chỉ nói chuyện tìm hiểu bình thường, nhưng sau đó cô này chủ động nói thương tôi và tôi cũng đồng ý.
Cô ta nói cô ta làm bên tóc và áo cưới ở cửa hàng áo cưới Uyên Ương Bến Tre, tìm hiểu nên tôi tin tưởng và tôi cũng có số điện thoại mẹ cô ta và cũng nói chuyện được vài lần nên tôi tin tưởng lắm. Khi cô ta học xong ra nghề thì muốn mở bán mỹ phẩm cô ta muốn làm riêng kiếm tiền cho hai đứa nên không cho gia đình biết, kêu tôi cố gắng chạy vốn, lúc đầu cũng ổn định, nhưng sau này thêm bán sỉ nên thiếu vốn tôi tiếp tục đi mượn vốn để thực hiện, rất nhiều chuyện dồn dập hiện giờ tôi đưa cho cô ta khoang 350 triệu, tôi nghi ngờ cô ta vì có lần nghe điện thoại xong cô ta nói ngủ sớm để ngày hôm sau đi làm nhưng quên tắt điện thoại nên tôi tò mò nghe thì tôi nghe bên kia đang đánh bài um xùm chửi tục.
Tôi đang nghi ngờ về cô gái này lừa tôi, cô này rất là rành về mỹ phẫm trang điểm, tham dự các cuộc thi tạo mẫu tóc có chụp hình cho tôi xem nên tôi tin tưởng lắm. Nhưng hiện nay tôi vô cùng lo lắng nếu tôi bị gạt thì có thể đòi lại tiền được không tôi gửi tiền cho cô ta tôi đều giữ giấy chuyển tiền lai và gần đây tôi có ghi âm các cuộc gọi khi nói chuyên.
Xin luật sư tư vấn nếu bị lừa tôi có thể lấy được tiền không vì nếu thật sự bị lừa thì việc lam và sự nghiêp của tôi mất hết. Xin luật sư giúp đỡ tư vấn giùm Trân trọng cảm ơn.
Người gửi H.N

Trả lời:

Hành vi của chị T thuộc dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Theo quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 được Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009 (BLHS) về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” thì:

“1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
...''

Tại điểm b khoản 1 Điều 140 thì trường hợp người nhận được tài sản đã sử dụng tài sản đó vào ''mục đích bất hợp pháp", như buôn lậu, mua bán ma túy, đánh bạc,...dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.Chị T có sử dụng số tiền anh H đưa để kinh doanh mỹ phẩm. Khi 2 người nói chuyện điện thoại với nhau, chị T như muốn tránh né cuộc nói chuyện và vô tình anh H nghe được bên kia đang đánh bài um xùm chửi tục. Nếu chị T sử dụng số tiền anh H đưa cho để kinh doanh đem đi chơi bài thì đó là hành vi lạm dụng sự tin tưởng, tín nhiệm của anh H để chiếm đoạt tài sản sử dụng vào việc làm bất hợp pháp bị pháp luật cấm.

Theo khoản 3 Điều 140 BLHS năm 1999 trường hợp chiếm đoạt tài sản từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

Trường hợp anh H muốn đòi lại tiền thì anh có quyền làm đơn tố cáo lên cơ quan công an, lấy giấy chuyển tiền và các cuộc nói chuyện được ghi âm lại đưa cho cơ quan công an để làm chứng cứ cho việc khởi kiện của mình là có căn cứ. Xét thấy có dấu hiệu phạm tội cơ quan công an sẽ khởi tố vụ án để điều tra.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua mạng xã hội thì phải làm gì để lấy lại ? Cách làm đơn tố giác lừa đảo