- 1. Công đoàn cơ sở có phải là tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở?
- 2. Pháp luật quy định như thế nào về bảo đảm cho cán bộ công đoàn?
- 3. Không gia hạn hợp đồng lao động với Chủ tịch công đoàn cơ sở có được không?
- 4. Công ty không gia hạn hợp đồng lao động với Chủ tịch công đoàn cơ sở thì có vi phạm pháp luật?
1. Công đoàn cơ sở có phải là tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở?
Dựa theo Điều 3 của Bộ Luật Lao động 2019, về tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, được mô tả như sau: Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở là một tổ chức được hình thành dựa trên sự tự nguyện của người lao động thuộc một đơn vị sử dụng lao động, với mục đích chính là bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người lao động trong mối quan hệ lao động thông qua các hoạt động thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác, theo quy định của pháp luật về lao động. Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở bao gồm công đoàn cơ sở và các tổ chức khác của người lao động tại doanh nghiệp.
Theo quy định tại Khoản 5 của Điều 12 trong Điều lệ Công đoàn Việt Nam, Chủ tịch công đoàn cấp cơ sở có thể được bầu cử tại các đại hội hoặc hội nghị của công đoàn cấp cơ sở. Quy định về đối tượng, nguyên tắc, thủ tục bầu cử được thực hiện theo hướng dẫn của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn.
Dựa trên các điều này, có thể nhận thấy rằng Chủ tịch Công đoàn cấp cơ sở không chỉ là một thành viên quan trọng trong ban lãnh đạo của Công đoàn cấp cơ sở mà còn đóng vai trò quan trọng trong ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.
2. Pháp luật quy định như thế nào về bảo đảm cho cán bộ công đoàn?
Dựa theo Điều 25 của Luật Công đoàn 2012 về bảo đảm cho cán bộ công đoàn, các điều sau được quy định:
- Trong trường hợp hết hạn hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc của cán bộ công đoàn không chuyên trách đang trong nhiệm kỳ, thì có thể gia hạn đến khi kết thúc nhiệm kỳ của họ.
- Đơn vị sử dụng lao động không được chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, sa thải, buộc thôi việc hoặc thuyên chuyển công tác đối với cán bộ công đoàn không chuyên trách mà không có ý kiến thỏa thuận bằng văn bản của Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở. Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận, cả hai bên phải báo cáo với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Sau 30 ngày, kể từ ngày báo cáo, đơn vị sử dụng lao động có quyền quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
- Nếu cán bộ công đoàn không chuyên trách bị chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, buộc thôi việc hoặc sa thải trái pháp luật, Công đoàn có trách nhiệm yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp; nếu được ủy quyền, Công đoàn đại diện khởi kiện tại Toà án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho cán bộ công đoàn. Đồng thời, họ cũng hỗ trợ tìm việc làm mới và cung cấp trợ cấp trong thời gian gián đoạn việc làm theo quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
Vì vậy, khi bạn là một cán bộ công đoàn, bạn sẽ được đảm bảo theo những quy định của pháp luật nêu trên.
3. Không gia hạn hợp đồng lao động với Chủ tịch công đoàn cơ sở có được không?
Dựa theo Điều 177 của Bộ Luật Lao động 2019, người sử dụng lao động có những nghĩa vụ quan trọng đối với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, bao gồm:
- Không được ngăn cản hoặc tạo khó khăn khi người lao động thực hiện các hoạt động hợp pháp để thành lập, gia nhập và tham gia các hoạt động của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.
- Cần công nhận và tôn trọng các quyền của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, nhất là khi tổ chức này đã được thành lập hợp pháp.
- Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, chuyển làm công việc khác, kỷ luật hoặc sa thải đối với người lao động là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, người sử dụng lao động phải thỏa thuận bằng văn bản với ban lãnh đạo của tổ chức đó. Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận, hai bên phải báo cáo với cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Sau 30 ngày, người sử dụng lao động có quyền quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
- Gia hạn hợp đồng lao động đến hết nhiệm kỳ cho người lao động là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, nếu họ đang trong nhiệm kỳ và hợp đồng sắp hết hiệu lực.
Vì vậy, Chủ tịch Công đoàn, là một thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, cần phải được gia hạn hợp đồng lao động nếu họ đang trong nhiệm kỳ và hợp đồng sắp hết hiệu lực, để đảm bảo quyền lợi và ổn định cho người lao động.
4. Công ty không gia hạn hợp đồng lao động với Chủ tịch công đoàn cơ sở thì có vi phạm pháp luật?
Theo quy định tại Khoản 2 của Điều 35 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, việc xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về bảo đảm thực hiện quyền của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở được mô tả như sau:
Người sử dụng lao động sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng nếu có một trong những hành vi sau đây:
- Không đạt được thỏa thuận bằng văn bản với ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, chuyển làm công việc khác hoặc kỷ luật sa thải đối với người lao động là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, trừ trường hợp hai bên không đạt được thỏa thuận.
- Quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, chuyển làm công việc khác hoặc kỷ luật sa thải đối với người lao động là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà vi phạm không tuân thủ thời gian báo trước cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại Khoản 3 của Điều 177 trong trường hợp không đạt được thỏa thuận với ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.
- Không thực hiện việc gia hạn hợp đồng lao động đã ký đến hết nhiệm kỳ cho người lao động là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đang trong nhiệm kỳ mà hợp đồng lao động của họ đã hết hiệu lực.
Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc người sử dụng lao động phải gia hạn hợp đồng lao động đã ký đến hết nhiệm kỳ cho người lao động là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, mà hợp đồng đã hết hiệu lực do vi phạm quy định tại điểm c của Khoản 2 của Điều này.
Chú ý: Theo quy định tại Khoản 1 của Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, mức phạt được nêu trong trường hợp này áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền đối với tổ chức sẽ là gấp đôi mức phạt đối với cá nhân.
Do đó, nếu công ty không thực hiện việc gia hạn hợp đồng lao động đã ký đến hết nhiệm kỳ cho người lao động là thành viên ban lãnh đạo của công đoàn cơ sở đang trong nhiệm kỳ, mà hợp đồng của họ đã hết hiệu lực, có thể sẽ phải đối mặt với mức phạt từ 20 - 40 triệu đồng (mức phạt đối với tổ chức).
Đồng thời, công ty cũng sẽ bị buộc phải gia hạn hợp đồng lao động đã ký đến hết nhiệm kỳ cho người lao động là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, trong trường hợp hết hạn hợp đồng.
Do đó, với tư cách là Chủ tịch công đoàn, nếu công ty của bạn không tuân thủ quy định về gia hạn hợp đồng lao động như mô tả, đó sẽ là vi phạm pháp luật và có thể dẫn đến trách nhiệm pháp lý cũng như mức phạt kếch xù.
Bài viết liên quan: Chủ tịch công đoàn cơ sở có được kiêm nhiệm chức vụ kế toán công đoàn?
Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi nội dung bài viết!