Để bảo đảm về mặt pháp lí, đồng thời phòng tránh trường hợp thoả ước lao động tập thể đã kí kết nhung bị vô hiệu, các bên phải tuân thủ các quy định về nội dung, chủ thể và thủ tục kí kết thoả ước lao động tập thể.
1. Chủ thể kí kết thoả ước lao động tập thể
Nếu như quá trình thương lương tập thể có sự tham gia của nhiều người, là đại diện của các bên người lao động và người sử dụng lao động, thì khi kí kết thoả ước lao động tập thể, chỉ cần một người đại diện cho mỗi bên. Do phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện những cam kết trong thoả ước lao động tập thể nên người đại diện kí kết thoả ước lao động tập thể là người đứng đầu hoặc đại diện hợp pháp của mỗi bên được pháp luật quy định.
Theo pháp luật Việt Nam, thoả ước lao động tập thể được kí kết bởi đại diện hợp pháp của các bên thương lượng. Trường hợp thoả ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp được tiến hành thông qua hội đồng thương lượng tập thể thì được kí bởi chủ tịch hội đồng thương lượng tập thể và đại diện hợp pháp của các bên thương lượng (khoản 4 Điều 76 Bộ luật lao động năm 2019).
2. Nội dung của thoả ước lao động tập thể
Nội dung thoả ước lao động tập thể là các vấn đề mà các bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể và được ghi trong bản thoả ước lao động tập thể.
Trên thế giới, nội dung thỏa ước lao động tập thể được pháp luật các quốc gia quy định khác nhau. Ở các quốc gia quy định phạm vi nội dung thương lượng tập thể rộng như Bỉ, Phần Lan, Đức, Thụy Điển, Đan Mạch,... thì nội dung của thoả ước lao động tập thể đa dạng, gồm nhiều vấn đề như việc làm, tiền lương tối thiểu, tiền thưởng, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn lao động, vệ sinh lao động... hoặc chỉ một hoặc một số vấn đề hoặc có khi nội dung của thoả ước lao động tập thể ở các cấp lại chỉ xoay quanh một vấn đề (ví dụlương tối thiểu). Ở các quốc gia quy định phạm vi thương lượng tập thể hẹp hơn như Đài Loan, Malaysia, Singapore thì nội dung của thoả ước lao động tập thể phải là các nội dung pháp luật quy định.
Pháp luật Việt Nam không quy định cụ thể nội dung thoả ước lao động tập thể mà chỉ quy định chung, bao gồm những vấn đề các bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể. Theo đó, nội dung thoả ước lao động tập thể phải bảo đảm ba điều kiện:
Thứ nhất, nội dung thoả ước lao động tập thể phải thuộc các nội dung thương lượng tập thể;
Thứ hai, nội dung thoả ước lao động tập thể không trái với quy định của pháp luật và khuyến khích có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật. Nghĩa là, các quyền lợi của người lao động phải bằng hoặc cao hơn những quy định tối thiểu, các nghĩa vụ phải bằng hoặc thấp hơn các quy định tối đa trong hành lang Bộ luật lao động quy định;
Thứ ba, nội dung thoả ước lao động tập thể phải được đa số người lao động hoặc thành viên ban lãnh đạo của các tổ chức đại diện người lao động biểu quyết tán thành.
3. Thủ tục kí kết thoả ước lao động tập thể
Do thoả ước lao động tập thể là kết quả của quá trình thương lượng giữa các bên nên về nguyên tắc, thủ tục kí kết thoả ước lao động tập thể được thực hiện tiếp nối và gắn liền với quy trình thương lượng tập thể. Theo pháp luật Việt Nam, sau khi đạt được thoả thuận tại phiên họp thương lượng tập thể, các bên tiến hành xây dựng dự thảo thoả ước và phải lấy ý kiến của người lao động hoặc tổ chức đại diện của người lao động trước khi kí kết. Đối với thoả ước lao động tập thể doanh nghiệp, phải lấy ý kiến của toàn bộ người lao động trong doanh nghiệp và thoả ước chỉ được kí kết khi có trên 50% người lao động của doanh nghiệp biểu quyết tán thành. Đối với thoả ước lao động tập thể ngành, đối tượng lấy ý kiến bao gồm toàn bộ thành viên ban lãnh đạo của các tổ chức đại diện người lao động tại các doanh nghiệp tham gia thương lượng và thoả ước ngành chỉ được kí kết khi có trên 50% tổng số người được lấy ý kiến biểu quyết tán thành. Đối với thoả ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp, đối tượng lấy ý kiến bao gồm toàn bộ người lao động tại các doanh nghiệp tham gia thương lượng hoặc toàn bộ thành viên ban lãnh đạo của các tổ chức đại diện người lao động tại các doanh nghiệp tham gia thương lượng. Chỉ những doanh nghiệp có trên 50% số người được lấy ý kiến biểu quyết tán thành mới tham gia kí kết thoả ước.
Thời gian, địa điểm và cách thức lấy ý kiến biểu quyết đối với dự thảo thoả ước lao động tập thể do tổ chức đại diện người lao động quyết định. Khi đủ điều kiện, chủ thể có thẩm quyền kí vào bản thoả ước lao động tập thể. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thoả ước lao động tập thể được kí kết, người sử dụng lao động tham gia thoả ước phải gửi 01 bản thoả ước lao động tập thể đến cơ quan chuyên môn về lao động thuộc uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính. Tại một số quốc gia như Thái lan, Singapore, Nhật Bản... mọi loại thoả ước lao động tập thể đều phải đăng kí tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ở các quốc gia như Bi, Slovakia, Litthuania, Công hoà Séc... chỉ thoả ước lao động tập thể cấp quốc gia và cấp ngành mới phải đăng kí, còn thoả ước lao động tập thể cấp doanh nghiệp không phải đăng kí. Tuy nhiên, ở một số quốc gia như Đan Mạch, Hy Lạp, Italia, Na Uy, Anh,... thì thoả ước lao động tập thể không phải đăng kí. Bên cạnh đó, ở Thuỵ Điển, thoả ước lao động tập thể không phải đăng kí nhưng buộc phải gửi đến Văn phòng hoà giải quốc gia nhằm phục vụ cho mục đích thông tin và nghiên cứu. Mục đích là để cơ quan nhà nước có thẩm quyền nắm bắt được việc thực hiện pháp luật lao động cũng như thực hiện quản lí lao động đối với đơn vị kí kết thoả ước lao động tập thể, giúp phòng ngừa và hạn chế vi phạm pháp luật lao động. Đối với thoả ước lao động tập thể ngành hoặc thoả ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp thì từng người sử dụng lao động và từng tổ chức đại diện người lao động tại các doanh nghiệp tham gia thoả ước phải được nhận một bản thoả ước. Sau khi thoả ước lao động tập thể được kí kết, người sử dụng lao động phải công bố cho người lao động trong đơn vị biết để thực hiện (Điều 76 Bộ luật lao động năm 2019).
Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập từ các nguồn trên internet)