Theo Văn bản hợp nhất Luật Tố cáo số 10/VBHN-VPQH ngày 15-07-2020 của Văn phòng Quốc hội; Nghị định số 31/2019/NĐ-CP ngày 10-04-2019 của Chỉnh phủ Quy định chi tiết một số Điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tố cáo. Quy định cụ thể như sau:

Quy định làm việc trực tiếp với người tố cáo được hướng dẫn bởi Điều 11 Nghị định 31/2019/NĐ-CP như sau:

1. Người giải quyết tố cáo, Tổ xác minh làm việc trực tiếp với người tố cáo; yêu cầu người tố cáo cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng mà họ có được để làm rõ nội dung tố cáo.

Người tô cáo có trách nhiệm trình bày trung thực về nội dung tố cáo, hợp tác, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được.

2. Nội dung làm việc với người tố cáo phải lập thành biên bản, có chữ ký của người tố cáo, người chủ trì làm việc với người tố cáo. Biên bản được lập thành ít nhất 02 bản, giao 01 bản cho người tô cáo (nếu người tố cáo có yêu cầu) và lưu 01 bản trong hồ sơ giải quyết tố cáo. Trường hợp người tố cáo không ký biên bản làm việc thì người chủ trì làm việc với người tố cáo và thành viên khác của Tổ xác minh ký biên bản và ghi rõ việc người tố cáo không ký. Biên bản làm việc thực hiện theo Mầu số 08 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 31/2019/NĐ-CP.

3. Trường hợp không làm việc trực tiếp với người tố cáo vì lý do khách quan thì người giải quyết tố cáo, người ra quyết định thành lập Tổ xác minh hoặc Tổ trưởng Tổ xác minh có văn bản yêu câu người tô cáo cung câp thông tin, tài liệu, bằng chứng đê làm rõ nội dung tố cáo.

Luật Minh Khuê phân tích chi tiết quy định pháp luật về vấn đề trên như sau:

1. Tố cáo là gì? Người tố cáo là gì?

Tố cáo là một quyền của công dân được được Nhà nước và pháp luật ghi nhận thông qua các quy định của pháp luật. Để thực hiện đúng quyền của mình và đúng theo quy định của pháp luật. Đây là việc công dân theo thủ tục do pháp luật quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

Theo luật Tố cáo, người tố cáo là cá nhân thực hiện việc tố cáo. Chủ thể thực hiện tố cáo có thể là cơ quan, tổ chức nhưng rất ít khi có những nội dung tố cáo này. Để thực hiện quyền tố cáo của một chủ thể và kéo theo xảy ra những hậu quả pháp lý và trách nhiệm gắn với cá nhân cụ thể đối với các nghĩa vụ phải đi đôi với quyền hạn. Công dân có quyền tố cáo là phù hợp với hiến pháp và chính sách hình sự - cá thể hóa hình sự của nước ta. Người tố cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi tố cáo của mình, nếu tố cáo sai sự thật thì phải bị xử lý về hành chính hoặc bị xử lý hình sự tùy thuộc vào tính chất và mức độ vi phạm của chủ thể tố cáo.

 

2. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo

Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo trong tố tụng hình sự là quyền của cá nhân, tổ chức được sử dụng để tố cáo cho cơ quan cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cá nhân, tổ chức nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

Theo Luật Tố cáo, việc quy định quyền và nghĩa vụ của người tố cáo của pháp luật hiện hành dựa trên nguyên tắc khuyến khích và tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền tố cáo một cách đầy đủ và đúng đắn, đồng thời công dân cũng phải có trách nhiệm về việc tố cáo của mình. Luật Tố cáo quy định về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo như sau:

- Quyền của người tố cáo:

  • Người tố cáo có quyền gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;
  • Được giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin khác của mình;
  • Yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thông báo về việc thụ lý giải quyết tố cáo, thông báo chuyển vụ việc tố cáo sang cơ quan có thẩm quyền giải quyết, thông báo kết quả giải quyết tố cáo;
  • Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trả thù, trù dập,..
  • Tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết và được khen thưởng theo quy định của pháp luật.

- Nghĩa vụ của người tố cáo:

  • Bên cạnh những việc thực hiện các quy định về quyền của mình thì người tố cáo cũng có nghĩa vụ phải nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình; 
  • Trình bày trung thực về nội dung tố cáo;
  • Cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được;
  • Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình và có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra.

Khi thực hiện quyền tố cáo, người tố cáo có nghĩa vụ trình bày trung thực về sự việc mà bản thân chứng kiến hoặc biết được thông qua các nguồn thông tin khác nhau. Người tố cáo cũng có nghĩa vụ cung cấp cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nếu có. Trong trường hợp người tố cáo cố ý tố cáo sai sự thật nhằm mục đích vu khống người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc các mục đích cá nhân khác thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật như trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật hoặc nặng nhất là trách nhiệm hình sự. Nếu việc tố cáo sai sự thật nhưng bản thân người tố cáo không cố ý mà do những nguyên nhân khách quan khác thì người tố cáo không phải chịu trách nhiệm.

 

3. Làm việc trực tiếp với người tố cáo được thực hiện như thế nào?

Khi người tố cáo đến trực tiếp và tố cáo bằng lời nói thì người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo viết thành văn bản hoặc ghi lại nội dung tố cáo bằng văn bản và yêu cầu những người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản. Trong đó ghi rõ nội dung theo yêu cầu quy định về ngày, tháng, năm tố cáo; họ tên, địa chỉ của người tố cáo, cách thức liên hệ với người tố cáo; hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo, người bị tố cáo và các thông tin khác có liên quan.

Trường hợp nhiều người tố cáo về cùng một nội dung thì người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo cử đại diện trình bày nội dung tố cáo hoặc viết thành văn bản và yêu cầu những người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản.

Tổ chức làm việc với người tố cáo để thu thập thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung tố cáo.

Tổ xác minh gửi giấy mời hoặc các hình thức liên hệ khác, lựa chọn địa điểm thuận lợi để làm việc trực tiếp với người tố cáo; yêu cầu người tố cáo cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ mà người tố cáo có được để làm rõ nội dung tố cáo. Người tố cáo có trách nhiệm trình bày trung thực về nội dung tố cáo, hợp tác, cung cấp thông tin tài liệu.

Quá trình làm việc với người tố cáo phải đảm bảo bí mật về buổi làm việc, không để những người không có trách nhiệm biết về địa điểm, nội dung làm việc trừ trường hợp người tố cáo không cần giữ bí mật. 

Nội dung làm việc với người tố cáo phải được lập thành biên bản theo mẫu quy định, có chữ ký của người tố cáo, người chủ trì làm việc; biên bản được lập ít nhất thành hai bản, giao một bản cho người tố cáo trong trường hợp người tố cáo có yêu cầu và lưu một bản trong hồ sơ giải quyết tố cáo. Trường hợp người tố cáo không ký biên bản làm việc thì người chủ trì làm việc và các thành viên khác của tổ xác minh tham gia buổi làm việc ký biên bản và ghi rõ lý do người tố cáo không ký.

Trường hợp không làm việc trực tiếp với người tố cáo vì lý do khách quan thì người giải quyết tố cáo, người ra quyết định thành lập Tổ xác minh hoặc tổ trưởng tổ xác minh có văn bản yêu cầu người tố cáo cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ để làm rõ nội dung tố cáo. Người tố cáo có trách nhiệm trình bày trung thực về nội dung tố cáo hợp tác, cung cấp thông tin tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được.

Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố cáo tiếp, người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của người đã giải quyết tố cáo phải xem xét hồ sơ giải quyết vụ việc trước đó; trường hợp cần thiết làm việc trực tiếp với người tố cáo về nội dung tố cáo tiếp, thu thập thông tin, tài liệu, chứng cứ có liên quan để quyết định xử lý đối với tố cáo tiếp.

 

4. Người bị tố cáo có được đối chấp trực tiếp với người tố cáo không?

Việc tiết lộ thông tin họ tên, địa chỉ, bút tích, của người tố cáo và thông tin khác làm lộ danh tính của người tố cáo thuộc một trong các hành vi nghiêm cấm cho nên việc đối chấp trực tiếp với người tố cáo là điều không thể xảy ra.

Căn cứ vào quyền và nghĩa vụ của người tố cáo thì không có quy định về việc tổ chức đối chất giữa người tố cáo và người bị tố cáo. Và để đảm bảo bí mật danh tính của người tố cáo sẽ không tổ chức cuộc đối chất tuy nhiên thì người tố cáo sẽ có nghĩa vụ phối hợp với người giải quyết tố cáo trong quá trình xác minh thông tin tố cáo, để có kết luận tố cáo chính xác.

Trên đây là bài viết của Luật Minh Khuê, nếu còn vướng mắc chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác quý bạn đọc vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong được nhận sự hợp tác! Trân trọng./.