CƠ SỞ PHÁP LÝ

Bản tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776

Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787

Hiến pháp nước Cộng hòa Ba Lan 1997

Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993

Hiến pháp Italia 1947

Hiến pháp Nhật Bản 1946

hiến pháp cộng hòa Xéc năm 1992

Đạo luật Liên bang Áo năm 1970

NỘI DUNG TƯ VẤN:

>> Xem thêm:  Quyền tư pháp là gì ? Quyền tư pháp theo quy định của Hiến pháp năm 2013

1. Khái quát về lịch sử lập hiến của Pháp:

Cộng hòa Pháp là một trong những quốc gia có truyền thông lập hiến lâu dài nhất trong lịch sử nhân loại. Lịch sử lập hiến của Pháp bắt đầu từ cuộc cách mạng dân chủ tư sản năm 1789, xóa bỏ chế độ quân chủ chuyên chế, xây dựng nền quân chủ lập hiến với sự xác lập chủ quyền dân tộc thuộc về toàn thể nhân dân. Hiến pháp đầu tiên của nước Pháp là Hiến pháp năm 1791. Tư tưởng chủ đạo của Hiến pháp năm 1791 là Bản tuyên ngôn về quyền công dân và quyền con người năm 1789. Những quy định trong bản tuyên ngôn nổi tiếng này đã trở thành những nguyên tắc cơ bản của quá trình đấu tranh vì chế độ dân chủ trong lịch sử lập hiến của nước Pháp. Đó là những quy định sau đây:

  • Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
  • Mục đích của tất cả các tổ chức chính trị là bảo vệ các quyền tự nhiên và bất khả xâm phạm của con người. Đó là các quyền: Tự do, sở hữu, an toàn và sự chống lại áp bức.
  • Nguyên tắc tất cả chủ quyền Nhà nước thuộc về dân tộc. Không một tổ chức hay cá nhân nào được vi phạm chủ quyền của dân tộc.
  • Tự do là khả năng làm tất cả những gì không hại đến người khác. Việc thực hiện quyền tự nhiên của con người được giới hạn bởi những quy định nhằm đảm bảo cho mọi thành viên khác trong xã hội cũng thực hiện được những quyền đó. Những giới hạn này chỉ có thể được xác định bởi văn bản luật.
  • Chỉ có luật mới có thể cấm đoán các hành vi mà nó xác định là có hại cho xã hội. Không ai có thể ngăn cản con người thực hiện một hành vi mà luật không cấm và không ai có thể bắt buộc người khác thực hiện một hành vi mà luật không bắt buộc thực hiện.
  • Luật là sự thể hiện ý chí chung của toàn thể công dân. Tất cả mọi công dân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện để góp phần xây dựng luật. Luật pháp chỉ là một cho tất cả mọi người dù là bảo vệ hay là trừng phạt. Trước pháp luật mọi người đều bình đẳng.
  • Không ai có thể bị buộc tội, bị bắt, bị giam giữ ngoài những quy định của luật.
  • Luật chỉ thiết lập các hình phạt một cách nghiêm khắc khi điều đó là thật sự cần thiết và không ai bị áp dụng hình phạt theo luật, nếu luật đó ban hành sau khi hành vi đã xảy ra (không áp dụng hiệu lực hồi tố đối với các hình phạt mới thiết lập).
  • Tất cả mọi người đều được coi là vô tội khi chưa có một bản án của tòa án có thẩm quyền kết tội.
  • Không ai có thể bị truy bức vì quan điểm của họ, kể cả khi đó là quan điểm tôn giáo, miễn là sự biểu hiện quan điểm đó không gây ra sự rối loạn trật tự xã hội mà pháp luật đã thiết lập.
  • Tự do giao lưu tư tưởng và quan điểm là một trong những quyền quan trọng nhất của con người. Công dân có quyền tự do nói, viết, in ấn, ngoại trừ sự lạm dụng quyền tự do đó trong những trường họp mà luật quy định.
  • Sự đảm bảo các quyền con người và quyền công dân cần thiết một sức mạnh Nhà nước. Sức mạnh này được thiết lập vì lợi ích chung của mọi người chứ không phải vì lợi ích của những người được Nhà nước trao cho sức mạnh đó.
  • Để duy trì quyền lực công cộng và những chi phí hành chính mỗi công dân tùy theo khả năng của mình phải đóng góp một khoản nhất định cho Nhà nước.
  • Tất cả mọi công dân có quyền tự mình xác lập sự cần thiết về đóng góp công cộng, về cơ sở xác lập, về xác định định suất về việc thu và thời hạn.
  • Xã hội có quyền đòi hỏi tất cả các viên chức Nhà nước phải thẩm kế về chi tiêu hành chính của mình.
  • Mọi xã hội mà trong đó quyền con người và công dân không được đảm bảo, không có sự phân chia quyền lực thì không thể có Hiến pháp.
  • Quyền sở hữu là quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Khi xã hội cần thiết vì lợi ích chung với sự đền bù thỏa đáng sở hữu tư nhân buộc phải chuyển thành sở hữu công cộng.

Bản tuyên ngôn quyền con người và quyền công dân đã nêu trên đây đã được đưa vào phần đầu của Hiến pháp năm 1791 và được bổ sung hoàn thiện trong các Hiến pháp năm 1793, năm 1795 và được thể hiện trong lời nói đầu Hiến pháp năm 1946.

Khác với lịch sử lập Hiến Hoa Kỳ nơi mà Hiến pháp luôn luôn gắn với nền cộng hòa tổng thống lịch sử lập hiến của Pháp bắt đầu từ việc thiết lập nền quân chủ lập hiến, sau đó mới thiết lập nền cộng hòa rồi lại có những bước ngoặt sang nền quân chủ lập hiến trước khi khẳng định nền cộng hòa lâu dài bằng việc quy định, trong Hiến pháp hình thức Nhà nước cộng hòa là vấn đề không thể sửa đổi.

Với lịch sử hơn hai trăm năm nền lập hiến của pháp đã biết đến 11 bản Hiến pháp và 4 đạo luật hiến pháp. Chúng ta có thể sắp xếp theo thời gian ban hành như sau:

  • Hiến pháp ngày 3/9/1791;
  • Hiến pháp ngày 24/6/1793 (Hiến pháp này không được áp dụng);
  • Hiến pháp ngày 22/8/1795 (còn gọi là Hiến pháp năm thứ 3 - Cộng hòa);
  • Hiến pháp ngày 15/12/1799 (Hiến pháp năm thứ tám);
  • Hiến chương ngày 4/6/1814(1);
  • Hiến chương ngày 14/8/1830(2);
  • Hiến pháp ngày 4/11/1848;
  • Hiến pháp ngày 14/1/1852;
  • Hiến pháp ngày 21/5/1870 (không áp dụng);
  • Đạo luật Hiến pháp 25/2/1875 về tổ chức quyền lực Nhà nước;
  • Đạo luật Hiến pháp 24/2/1875 về tổ chức Thượng nghị viện;
  • Đạo luật Hiến pháp 16/7/1875 về mối quan hệ của các quyền lực Nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp);
  • Đạo luật Hiến pháp 10/7/1940 về việc Quốc hội trao toàn quyền cho Chính phủ dưới sự lãnh đạo của Nguyên soái Pêten (Petain) xây dựng một hiến pháp mới;
  • Hiến pháp 27/10/1946;
  • Hiến pháp 4/10/1958.

Lich sử hơn hai trăm năm lập hiến của Pháp gắn liền với nhiều sự kiện và những biến đổi trong xã hội. Đó là 5 cuộc cách mạng, 2 đế chế, 2 lần Vương quốc phục quyền, 5 chế độ cộng hòa và trải qua 2 cuộc chiến tranh thế giới.

2. Các cuộc cách mạng

2.1 Cuộc cách mạng thứ nhất:

Cách mạng tư sản 1789 như đã nói ở phần đầu xóa bỏ chế độ quân chủ chuyên chế, xây dựng chế độ quân chủ lập hiến với Hiến pháp 1791;

>> Xem thêm:  Nhà nước quân chủ trung ương tập quyền là gì ?

2.2 Cuộc cách mạng thứ 2:

Cách mạng tư sản 1830 với “ba ngày oanh liệt” 27, 28, 29 tháng 7. Nguyên nhân của cuộc cách này là bởi sự phẫn nộ của dân chúng trước những sắc lệnh của vua Sáclơ Actur X hạn chế quyền bầu cử, thu hẹp thẩm quyền lập pháp của Hạ nghị viện, hủy bỏ quyền tự do xuất bản và tự do hội họp. Sau những cuộc giao tranh đẫm máu trên đường phố Paris lực lượng cách mạng đã lật đổ ngai vàng của vua Saclơ X, chấm dứt sự thống trị của dòng hộ Buốc Bông. Lực lượng cách mạng mà cầm đầu là những nhà tư sản tài chính kếch xù đã đưa Luis Philippe lên ngôi hoàng đê' thiết lập một nền quân chủ lập hiến mới;

2.3 Cuộc cách mạng thứ 3:

Cách mạng tư sản tháng 2/1848. Nguyên nhân của cuộc cách mạng này là mâu thuẫn giữa tư sản công nghiệp và tư sản tài chính, đồng thời giai cấp công nhân bị bóc lột nặng nề, đời sống khốn cùng đã tỏ sự bất bình cao độ với Chính phủ. Vào năm 1847, hai tai họa lớn đã xảy ra nạn mất mùa và khủng hoảng thê' giới về công nghiệp và thương mại. Lợi dụng cơ hội này tầng lớp tư sản đối lập với chính quyền đòi phải hạ thấp điều kiện bầu cử, cải cách chế độ bầu cử dân chủ hơn nhằm chống lại sự độc quyền của các nhà tư bản tài chính đầu nậu. Do Chính phủ không chịu cải cách nên ngày 22/1/1848 cuộc cách mạng đã bùng nổ. Công nhân từ ngoại thành Paris kéo vào trung tâm. Sau những cuộc chiến ác liệt với quân đội hoàng gia những người biểu tình đã xông vào cung điện nhà vua lật đổ ngai vàng và ném nó vào trong một đống lửa lớn. Vua Philippe bỏ chạy thoát thân. Nước Cộng hòa thứ 2 được thiết lập.

2.4 Cuộc cách mạng thứ 4:

Cách mạng tháng 6 năm 1848. Sau khi dựng nên nền cộng hòa giai cấp công nhân hy vọng, sẽ có một Nhà nước cộng hòa xã hội và dân chủ. Nhưng Quốc hội lập hiến họp ngày 4/5/1848 đã làm tiêu tan hy vọng của những người đã làm cuộc cách mạng tháng 2/1848. Chính phủ lâm thời được thành lập nên từ những nhà tư sản công nghiệp đã phản bội giai cấp công nhân chỉ chăm lo đến quyền lợi của giai cấp tư sản. Chính phủ đã quyết định đóng cửa các xưởng quốc gia làm hàng nghìn công nhân bị thất nghiệp. Chính phủ muốn công nhân ở những xưởng này chuyển về làm việc ở nông thôn như vậy an toàn cho Chính phủ hơn. Khác với cuộc cách mạng tháng 2 là cuộc cách mạng tư sản với sự tham gia của giai cấp vô sản. Cách mạng tháng 6/1848 hoàn toàn là cuộc cách mạng vô sản chống lại giai cấp tư sản. Nhưng cuộc cách mạng này đã xảy ra một cách tự phát, thiếu chương trình rõ ràng, thiếu sự chuẩn bị cần thiết và nhất là không có trung tâm lãnh đạo cách mạng. Sau 5 ngày chiến đấu anh dũng lực lượng cách mạng đã bị quân Chính phủ đánh bại. Nếu trong cuộc cách mạng tháng 2 chỉ có khoảng hơn năm nghìn người chết và bị thương thì trong cuộc cách mạng tháng 6 có khoảng 50.000 người bị giết. Và khi cách mạng đã bị dập tắt còn có khoảng 3.000 người nữa bị giết và 15.000 người bị đi đày

Nói về nguyên nhân thất bại của cuộc cách mạng này C.Mac đã viết: “Giai cấp công nhân Paris chỉ đơn độc một mình, họ không có liên minh. Đó chính là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến thất bại”.

2.5 Cuộc cách mạng thứ 5:

Cách mạng vô sản ngày 18/3/1871 (Công xã Paris). Đây cũng là cuộc cách mạng tự phát. Nguyên nhân của cuộc cách mạng này là sự thất nghiệp và đói khổ của công nhân sau 6 tháng Paris bị quân Đức bao vây. Dưới áp lực của nhân dân Chính phủ Thier buộc phải cho phép thành lập 200 tiểu đoàn cận vệ quốc gia để chống lại quân Đức, thành phần của những tiểu đoàn cận vệ này hầu hết là công nhân. Đội quân cận vệ quốc gia bầu ra ủy ban chấp hành trung ương, ủy ban trung ương đã tuyên bố chính quyền Nhà nước thuộc về giai cấp công nhân và tuyên bố thành lập các công xã. Chính phủ phản động Thier bị lật đổ, cuộc bầu cử vào Hội đồng công xã được tiến hành theo cấc khu vực thành phố trên cơ sở bầu cử phổ thông đầu phiếu.

Theo nhận xét của C.Mac Hội đồng công xã Paris không phải là Nghị viện mà nó là một cơ quan vừa lập pháp vừa tổ chức thực hiện pháp luật nghĩa là vừa có chức năng lập pháp vừa có chức nâng hành pháp, không có sự phân chia quyền lực. Để thực hiện pháp luật và các chính sách của Hội đồng công xã, 10 ủy ban được thành lập với những thẩm quyền nhất định. Đó là các ủy ban tài chính, giáo dục, tư pháp, quan hệ đối ngoại, lao động, phục vụ xã hội, quốc phòng, an ninh xã hội v.v...

>> Xem thêm:  Lập hiến là gì ? Quy định pháp luật về lập hiến

Công xã Paris đã soạn thảo và công bố kế hoạch cải cách Nhà nước. Kế hoạch này có tên gọi là: “Bản tuyên ngôn với nhân dân Pháp”. Theo Bản tuyên ngôn này nước Pháp phải là một nước Cộng hòa tập hợp các công xã tự do, được tổ chức theo mô hình công xã Paris. Thành phố cũng như nông thôn sẽ thực hiện hình thức Công xã tự quản. Mỗi công xã có quyền xây dựng lực lượng quân sự của mình dưới hình thức đội cận vệ. Tòa án sẽ được tổ chức trên co sở bầu cử các thẩm phán. Sau 72 ngày tồn tại Cồng xã Paris đã thất bại. Chính phủ Véc-xây đã đàn áp rất dã man. Khoảng 30.000 người đã bị bắn và khoảng 50.000 đã bị bắt và phải chịu tù, đày. Khi nhận xét về nguyên nhân thất bại của công xã Paris Lênin đã viết: “Để cho một cuộc cách mạng thắng lợi giai cấp vô sản ít nhất phải có 2 điều kiện đó là sự phát triển cao của sức sản xuất và sự chuẩn bị của giai cấp vô sản. Nhưng vào năm 1871 ở Pháp còn thiếu hai điều kiện nói trên.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hợp hiến là gì ? Khái niệm hợp hiến được hiểu như thế nào ?

Câu hỏi về Lịch sử lập hiến của Pháp ?

Câu hỏi: C.Mac đã nhận xét về Hội đồng công xã Paris như thế nào?

Trả lời:

Hội đồng công xã Paris không phải là Nghị viện mà nó là một cơ quan vừa lập pháp vừa tổ chức thực hiện pháp luật nghĩa là vừa có chức năng lập pháp vừa có chức nâng hành pháp, không có sự phân chia quyền lực. 

Câu hỏi: Kế hoạch cải cách Nhà nước của Công xã Paris còn có tên gọi khác là gì?

Trả lời:

Kế hoạch cải cách Nhà nước của Công xã Paris còn có tên gọi khác là : “Bản tuyên ngôn với nhân dân Pháp”. 

Câu hỏi: Công xã Paris tồn tại trong bao nhiêu lâu?

Trả lời:

Sau 72 ngày tồn tại Cồng xã Paris đã thất bại.