CƠ SỞ PHÁP LÝ
Bản tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776
Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787
Hiến pháp nước Cộng hòa Ba Lan 1997
Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993
Hiến pháp Italia 1947
Hiến pháp Nhật Bản 1946
Hiến pháp cộng hòa Xéc năm 1992
Đạo luật Liên bang Áo năm 1970
NỘI DUNG TƯ VẤN
1. Những giai đoạn có ý nghĩa quan trọng trong tư tưởng lập hiến ở Anh (1625 - 1660)
1.1 Vua Charles I và các cuộc chiến tranh
Vua Charles I thừa kế ngai vàng của Vua James năm 1625. Cũng như cha đẻ của mình Vua Charles I tin vào quyền của Thượng đế và tiếp tục tranh đấu với Nghị viện để bảo vệ các quyền của mình. Nghị viện trong thời kỳ này nắm quyền kiểm soát thuế và đang đấu tranh để được quyền quyết định nhiều hơn nữa trong lĩnh vực thuế. Theo truyền thống, Nghị viện sẽ bỏ phiếu ra Nghị quyết vào khi Vua mới lên cầm quyền quy định các loại thuế và mức thuế, nghĩa vụ đóng thuế hàng hoá như rượu vang hoặc vải len... tạo thành nguồn thu nhập hàng năm của Vua. Giờ đây Nghị viện muốn đánh giá lại các thứ thuế đó hàng năm để có thể kiểm soát chặt chẽ hơn nguồn thu hàng năm của Vua. Vua James I đã phản đối việc xâm phạm đến quyền mà theo ông là của Thượng đế ban cho người làm Vua cai trị một đất nước. Vua James I đã giải tán Nghị viện và giống như cha Vua Charles I cũng đã làm như vậy để ngăn'cản việc đánh giá lại hàng năm nguồn thu của Vua. Vua Charles đòi rất nhiều tiền lãi từ khoản cho các nhà quý tộc vay. Vua Charles cũng nhận được rất nhiều tiền từ các loại thuế. Một loại thuế mà Vua Charles thu được rất nhiều tiền là khoản thuế thu từ những tàu thuyền neo đậu trên bờ biển nước Anh (gọi là Ship Money Tax). Những khoản tiền này tạo ra nguồn ngân sách rất quan trọng nên nhà Vua đã yêu cầu các quận tiếp giáp với bờ biển xây dựng các hạm đội để bảo vệ bờ biển quốc gia và đảm bảo uy lực cho việc thu thuế. Các quận giáp với bờ biển đã bất bình với Vua khi các khoản thuế này thu trong thời bình nhưng Vua Charles đã không sử dụng nó để chi bù đắp lại cho các quận đã tốn kém trong việc xây dựng các hạm đội. Để thu được nhiều tiền hơn nữa, Vua Charles lại cho thu thuế tàu thuyền trong nội địa các quận và khoản thuế mới này Vua đặt ra mà không có sự phê chuẩn của Nghị viện, đã vi phạm luật tập quán của Anh. Điều này đã làm cho người dân Anh phải chống đối lại sắc lệnh của Vua. Tuy nhiên, Vua Charles I đã gây chiến với Pháp và Tây Ban Nha và cuộc chiến tranh tốn kém này đòi hỏi nhà Vua phải có nhiều tiền hơn nữa. Vua Charles đã triệu tập Nghị viện vào năm 1629, yêu cầu Nghị viện đặt thêm một loại thuế nữa để có tiền mua sắm vũ khí và nuôi quân đội. Nghị viện đã chấp thuận đề nghị của Vua Charles I với điều kiện vua phải ký phê chuẩn vào Đạo luật về quyền thỉnh cầu của nhân dân (The Petition of Rights) trong đó bắt buộc Vua phải tuân thủ luật của Nghị viện. Đạo luật này đã hạn chế quyền lực của vua bằng các quy định sau đây:
- Vua không thể ban hành lệnh thiết quân luật ở Anh trong thòi bình;
- Vua không thể thu thuế nếu Nghị viện không chấp thuận;
- Vua không thể tuỳ tiện bắt giam người dân;
Vua không thể cho đóng quân trong nhà tư nhân.
Sau khi Vua Charles đạt được nguyện vọng, nhận được luật thuế mới do Nghị viện ban hành vào năm 1629, nhà Vua đã giải tán Nghị viện và phá bỏ nguyên tắc đã xác lập trong Đạo luật về quyền thỉnh cầu của nhân dân (Petition of Rights).
Trong thời kỳ này đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh, các cuộc chiến tranh giữa Anh với Pháp và Tây Ban Nha đều do Công tước của Buckingham gây ra. Vua Charles I cùng với Tổng giám mục của nhà thờ Canterbury là William Laud đã tiến hành chiến tranh với Scotland nhằm mục đích chuyển hoá dân Scotland vào giáo phái Tin lành của nhà thờ Anh. Cuộc chiến tranh này được gọi là chiến tranh giám mục (Bishops, war) diễn ra trong hai năm 1639-1640. Cuộc chiến tranh này có hai giai đoạn chính: Giai đoạn 1 bắt đầu từ năm 1639 và kết thúc trong năm này bằng sự ngừng chiến theo thoả thuận của hai bên. Giai đoạn thứ hai bắt đầu vào năm 1640 bằng sự tấn công của quân đội Scotland vào lãnh thổ nước Anh. Quân đội Scotland đã đánh thắng quân đội Anh và đã đóng quân lại trên lãnh thổ Anh cho đến khi mọi vấn . đề của họ được giải quyết. Để kết thúc cuộc chiến tranh này Vua Charles I đã buộc phải ký Hiệp định Ripon (Treaty of Ripon) năm 1640 với Scotland. Theo Hiệp định này nước Anh là nước gây ra chiến tranh và là nước bại trận phải bồi thường cho Scotland một khoản hao phí chiến hanh mặc dù số tiền bồi thường không lớn nhưng có ý nghĩa chính trị lớn đối với nước đã thắng trận. Trong giai đoạn thứ hai của cuộc chiến tranh giám mục, Vua Charles I đã kêu gọi Nghị viện đặt ra thuế mới để phục vụ chiến tranh, nhưng Nghị viện đã từ chối. Sau đó 3 tuần, Charles I đã tuyên bố giải tán Nghị viện. Tuy nhiên, trong điều kiện gần như tuyệt vọng về việc thu một khoản thuế mới Charles I lại triệu tập Nghị viện một lần nữa. Và lần này để chấp nhận lập ra một loại thuế mới Nghị viện đã đặt ra những điều kiện ngặt nghèo buộc Charles phải tuân theo như một ông vua của chế độ quân chủ lập hiến. Những điều kiện đó là:
- Vua Charles I phải đàn hạch Thomas Wentworth and William Laud. Về điều kiện này Vua Charles I đã miễn cưỡng thực hiện và Thomas Wentworth đã bị xử tử hình năm 1641 và William Laud bị xử tử hình năm 1645. (Riêng đối với việc để cho Thomas Wentworth bị xử tử hình sau này Charles I đã không bao giờ tha thứ cho mình vì ông đã rất thân thiết với Thomas Wentworth);
- Charles I phải thực hiện Luật gọi là “Triennial Act” (Luật ba năm) ban hành năm 1641, theo đó Nghị viện phải họp 3 năm một lần dù có sự đồng ý của Vua hay không;
- Charles I phải xoá bỏ thiết chế toà án gọi là “The Court of Star Chamber” (Toà Sao) khét tiếng là toà án bất công và tàn bạo, nơi mà công tố viên và thẩm phán xét xử là một và do Vua Charles I khống chế, thực chất là nơi thực hiện ý chí của vua nhưng được thực hiện với mặt nạ là toà án.;
- Charles I phải xoá bỏ Toà án cấp cao (High Court). Toà án này cũng như Toà Sao đã xét xử một cách bất công, dựa trên các thuyết lý của tà đạo, đã không còn là toà án của pháp luật (extralegal court);
- Charles I phải tiếp nhận các khiếu nại, tố cáo và cho phép lưu hành các bản sao các tài liệu mà trong đó các công chức đã tố cáo các tội phạm mà Charles I đã thực hiện từ khi lên ngôi vua;
- Charles I phải chấp nhận không bao giờ giải tán Nghị viện nếu không được sự đồng ý của Nghị viện .
Với những điều kiện đã được Vua Charles chấp nhận trên đây, phần lớn người Anh đã nghĩ rằng Nghị viện đã kiềm chế được quyền lực của Vua. Tuy nhiên, Nghị viện lúc này chưa có quan điểm thống nhất trong vấn đề liên quan đến tôn giáo. Trường phái cấp tiến trong Nghị viện muốn cải cách nhà thờ Anh bằng cách làm cho các thủ tục cầu nguyện và các nghi lễ tôn giáo khác đơn giản hơn còn trường phái bảo thủ thì cố duy trì các trật tự tôn giáo cũ. Vua Charles I đã lợi dụng sự thiếu thống nhất này để trấn áp Nghị viện, ông đã đưa 500 lính đột phập vào Hạ viện để bắt 5 người cầm đầu trong phái cấp tiến. Năm người này, may mắn được những người thân báo trước nên đã thoát nạn. Nghị viện Anh đã phản ứng mạnh mẽ trước sự kiện này và xung đột giữa Vua và Nghị viện càng trở nên gay gắt hon. Trước tình hình đó Vua Charles đã rời bỏ London để đến Oxford và cuộc nội chiến bắt đầu từ năm 1642. Quân đội của Vua Charles và phần đông tầng lớp quý tộc chiếm vùng phía Bắc và Tây nước Anh, còn quân của Nghị viện chiếm ở phía Nam và Đông nước Anh. Do Nghị viện thấy đội quân của mình không có được những khả năng quân sự như đội quân của Vua Charles I nên họ đã cầu viện quân đội Scotland trợ giúp với sự hứa hẹn khi giành chiến thắng sẽ thiết lập giáo phái Tin lành trưởng lão (Presbyterianism) trên đất Anh. Họ đặt tên cho đội quân của mình là “New Model Army” (nghĩa là quân đội kiểu mới) và phong Oliver Cromwell, một thành viên của Nghị viện làm chỉ huy. Phần lớn các thành viên của đội quân Cromwell là người theo giáo phái trưởng lão của đạo Tin lành.
1.2 Oliver Cromwell và khối thịnh vượng chung
Mặc dù giành được thắng lợi nhưng phái Nghị viện Anh đã không thiết lập được giáo phái trưởng lão tin lành thành tôn giáo quốc gia như đã hứa hẹn nên ba bộ phận: Quân đội kiểu mới (New Model Army) của Cromwell, Nghị viện và quân đội Scotland đã tách biệt. Những người Scotland được trả một khoản tiền báo đáp sự giúp đỡ của họ và được đưa về nước. Oliver Cromwell đề nghị Nghị viện phục hổi các giám mục của nhà thờ Anh và Vua Charles I như một chế độ quân chủ lập hiến và cho phép sự tổn tại của các tôn giáo khác ngoài đạo Tin lành. Nghị viện đã chấp thuận khôi phục ngai vàng cho Charles I nhưng không chấp nhận tôn giáo khác ngoài đạo Tin lành. Nghị viện đã quyết nghị giải tán quân đội (New Model Army) nhưng quân đội đã từ chối thực hiện quyết nghị của Nghị viện. Vua Charles I lúc này đã chọn giải pháp như Nghị viện đã lựa chọn mấy năm trước đó là đề nghị sự cứu viện của Scotland và hứa hẹn sẽ thiết lập giáo phái trưởng lão đạo Tin lành trên nước Anh. Và thế là cuộc nội chiến mới lại nổ ra vào năm 1648 giữa một bên là Scotland, những Nghị sĩ theo giáo phái trưởng lão đạo Tin lành, những người trung thành với Vua Charles I và bên kia là quân đội kiểu mới (New Model Army) và bộ phận còn lại của Nghị viện. Trong cuộc nội chiến lần này với trận chiến ở Breston 1648, Cromwell với quân đội của mình đã đánh bại quân của Vua Charles I. Sau chiến thắng của Cromwell, theo sáng kiến một sĩ quan trong quân đội của ông là đại tá Pride, Nghị viện đã loại bớt 143 trong số 203 Nghị sĩ theo giáo phái trưởng lão của đạo Tin lành làm cho giáo phái này chỉ còn thiểu số trong nghị viện. Nghị viện mới đã ra hai nghị quyết quan trọng:
- Xoá bỏ chế độ quân chủ, xoá bỏ Viện quý tộc trong Nghị viện, đàn hạch vua Charles I (kết quả là ông đã nhận bản án tử hình vì các tội phạm ông đã gây ra).
- Thiết lập nền cộng hoà gọi là “Khối thịnh vượng chung” (Commonwealth) nhưng thực chất là nền chuyên chính của Cromwell.
Scotland đã chống lại nền cộng hoà Cromwell và tuyên bố con trai của Charles I ở Edinbourgh là Vua Charles II. Tuy nhiên sau đó không lâu, Charles II đã bị quân đội của Cromwell đánh bại vào năm 1650 và Charles II phải chạy trốn sang Pháp và cư trú ở Pháp đến năm 1660. Cromwell tiến về Ireland, do xung đột với đạo cơ đốc (Catholics) nên trong các trận đánh với quân Ireland ông đã cho quân đội tàn sát không thương tiếc. Điều này đã làm cho người Ireland căm phẫn và nổi loạn chống lại ông. Cromwell đã giải tán Nghị viện và tự tuyên bố mình là người bảo hộ của nước Anh (Lord Protector).
2. Hội đồng cơ mật (Privy Council)
2.1 Giai đoạn từ năm 1066 - 1270
Từ năm 1066, sau khi người Normand (từ Vùng Normandie miền Bắc nước Pháp) chinh phục nước Anh, William trở thành Hoàng đế Anh quốc. William đã lập ra một chức quan giúp việc đắc lực cho mình là Đại pháp quan (Chancellor). Đại pháp quan là Chánh văn phòng Hoàng đế giữ ấn triện của Vua. Đại pháp quan chịu trách nhiệm sắp xếp các công việc hàng ngày của Hoàng đế, soạn thảo các sắc lệnh, chiếu chỉ cho Hoàng đê' và thay mặt Hoàng đế thực hiện quyền tư pháp. Cùng với Đại pháp quan nhà vua còn lựa chọn thêm một số người tin cẩn của mình để thành lập ra một cơ quan tư vấn cho Vua trong việc giải quyết các công việc quan trọng của đất nước và từ thế kỷ XIII cơ quan Viện cơ mật (Privy Council) đã hình thành.
2.2 Giai đoạn từ năm 1271 - 1820
Dưới triều vua Edward I (1271- 1307) người ta khó mà biết được các văn bản pháp luật do Vua ban hành xuất phát từ Hội đồng cơ mật hay xuất phát từ Nghị viện. Suốt thế kỷ thứ XIV liên tục xẩy ra sự xung đột quyền lực giữa Nghị viện và Hội đổng cơ mật. Thế kỷ XV, XVI là thời kỳ hoàng kim của Viện cơ mật. Tuy nhiên, sang thế kỷ XVII cuộc cách mạng dân chủ tư sản 1688 (Glorious Revolution) với học thuyết chủ quyền tối cao thuộc về Nghị viện vai trò của Viện cơ mật bắt đầu bị lu mờ. Đặc biệt dưới triều đại các vua George I (1714-1727), George II (1727- 1760) do không biết nói tiếng Anh nên các công việc chính trị đều giao hết cho Nội các. Và Nội các bắt đầu giai đoạn quyết định các công việc chính tộ không có mặt Vua. Đến Vua George ni (1738 - 1820) và các vị Vua sau đó dù có muốn lấy lại vai trò chính trị của mình cũng không được. Khi vai trò của Nghị viện và vai trò của Nội các càng lớn dần lên thì vai trò của Hội đồng cơ mật của nhà vua cũng như vai trò chính trị của Vua cũng bị lu mờ và chỉ còn mang tính hình thức.
Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!