1. Bình đẳng tôn giáo - khái niệm
Nếu như tự do tôn giáo được xác quyết rõ ràng bởi Tuyên ngôn toàn cầu về quyền con người - 1948 (quen gọi là Tuyên ngôn 1948) của Liên Hợp Quốc và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị - 1946 thì bình đẳng tôn giáo hiện chưa có một văn bản nào từ phía quốc tế. Mặc dù vậy, Tuyên ngôn 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị đã đề cập đến một phần quan trọng của bình đẳng tôn giáo. Đó là một quyền tự do tôn giáo.
Tuyên ngôn 1948 về quyền tự do tôn giáo, trước khi đi vào Điều 18 với các Điều 1, Điều 2 và Điều 7 đưa ra quan điểm và nguyên tắc.
Điều 1. Mọi người sinh ra đều được tự do bình đẳng về nhân phẩm và các quyền. Mọi người được tạo hóa ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau bằng tình anh em.
Điều 2. Mỗi người đều được hưởng mọi quyền lợi và tự do nêu ra trong Tuyên ngôn này, không phân biệt sắc tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay quan điểm khác, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, nơi sinh hay trạng thái nào khác.
Và cuối cùng là Điều 18.
Điều 18. Mọi người có quyền tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo, quyền này bao gồm tự do thay đổi tôn giáo hay niềm tin, và tự do khi một mình hay với tập thể và ở nơi riêng tư hay công cộng, thể hiện tôn giáo hay niềm tin của mình trong thuyết giảng, thực hành, thờ cúng và tuân thủ nghi lễ[1].
Quyền tự do tôn giáo được bổ sung qua Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị.
Điều 18.
1. Mọi người có quyền tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo, quyền này bao gồm tự do sở hữu hay tiếp nhận một tôn giáo hay niềm tin theo lựa chọn của mình, và tự do, hoặc cá nhân hay với tập thể và ở nơi riêng tư hay công cộng, thể hiện tôn giáo hay niềm tin của mình trong thuyết giảng, thực hành, thờ cúng và tuân thủ nghi lễ, thực hành và truyền giảng.
2. Không ai bị ép buộc dẫn đến sự ảnh hưởng quyền tự do sở hữu hoặc tiếp nhận một tôn giáo hay niềm tin theo lựa chọn của mình.
3. Tự do biểu đạt tôn giáo hay các niềm tin của một người chỉ có thể bị hạn chế theo luật định khi thấy sự cần thiết phải bảo vệ an toàn, trật tự, sức khỏe, hoặc đạo đức công cộng hoặc các quyền căn bản và tự do của người khác.
4. Các quốc gia thành viên của Công ước hiện tại thực thi sự tôn trọng tự do của phụ huynh hoặc người bảo trợ hợp pháp để đảm bảo sự giáo dục về tôn giáo và đạo đức phù hợp với sự tin tưởng của chính con cái của họ[2].
2. Khái quát về bình đẳng tôn giáo
Tài liệu từ Hoàng Văn Chung cho biết, Tuyên ngôn 1948, và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị còn là cơ sở pháp lý để Liên Hiệp Quốc, Cộng đồng châu Âu cũng như ASEAN ban hành một số văn bản. Năm 1981, Liên Hiệp Quốc ban hành tuyên bố gồm 8 điều về xóa bỏ mọi dạng thức bất khoan dung và phân biệt đối xử dựa trên tôn giáo hay niềm tin. Công ước châu Âu về quyền con người - 1953. Công ước châu Mỹ về quyền con người - 1969. Tuyên ngôn quyền con người của ASEAN - 2012. Điều 22 Tuyên ngôn quyền con người của ASEAN viết:
Điều 22. Mọi người có quyền tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo, mọi dạng thức bất khoan dung, phân biệt đối xử và kích động thù hằn dựa trên tôn giáo và niềm tin tôn giáo sẽ bị xóa bỏ[3].
Có thể xem các văn bản về quyền tự do tôn giáo như là một chiều cạnh của bình đẳng tôn giáo. Song tự do tôn giáo chủ yếu được xem xét từ chiều cạnh một thể chế đối với người dân nhằm bảo đảm nhân quyền. Bình đẳng tôn giáo cần phải được xem xét ở chiều cạnh thể chế nhà nước và chiều cạnh giữa các tôn giáo.
Về chiều kích thể chế, nhà nước không chỉ bảo đảm quyền tự do tôn giáo cho mọi người mà còn phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
Bảo đảm quyền tự do tôn giáo cho các tôn giáo được công nhận hợp pháp;
Đối xử bình đẳng giữa các tôn giáo về quyền lợi và nghĩa vụ;
Không can thiệp vào nội bộ tôn giáo;
Khoan dung tôn giáo;
Trong những trường hợp đặc biệt có tính đến tính đặc thù của tôn giáo (lịch sử, ngôn ngữ, tập quán,…).
Về chiều cạnh các tôn giáo, các tôn giáo chấp nhận niềm tin của các tôn giáo khác; chấp nhận những giá trị của các tôn giáo khác; chấp nhận chung sống với các tôn giáo khác.
Như vậy, bình đẳng tôn giáo là việc bảo đảm các quyền tự do tôn giáo, đối xử bình đẳng giữa các tôn giáo, không can thiệp vào nội bộ tôn giáo, khoan dung tôn giáo của một thể chế nhà nước. Bình đẳng tôn giáo còn là các tôn giáo trong một quốc gia, một vùng lãnh thổ chấp nhận niềm tin, chấp nhận giá trị của các tôn giáo khác và chung sống với các tôn giáo khác.
Bình đẳng tôn giáo có một diễn trình lịch sử dài lâu ở các châu lục. Ở mỗi thời kỳ, mỗi châu lục, mỗi nước, mỗi sự kiện tôn giáo xảy ra lại xuất hiện những nội hàm của bình đẳng tôn giáo. Do vậy rất khó đưa ra một khái niệm bình đẳng tôn giáo mà ở đó bao hàm được các đặc thù trên. Nếu như quyền tự do tôn giáo (nhân quyền) dễ xác định bởi nó tìm kiếm được mẫu số chung, thì bình đẳng tôn giáo do quá nhiều tham số, mà nhiều tham số không thể “quy đồng” mẫu số. Chẳng hạn, bình đẳng tôn giáo phụ thuộc vào thể chế chính trị, phụ thuộc vào quan niệm văn hóa. Có quốc gia lấy một tôn giáo làm quốc giáo thì các tôn giáo còn lại khó có thể bình đẳng với các tôn giáo khác. Có quốc gia như nước Mỹ chấp nhận cho hệ phái Tin Lành Chứng nhân Giêhôva không chào quốc kỳ, không tiếp máu, không tham gia quân dịch. Hay như giáo phái Anna Báptít (giáo phái Rửa tội lại) được phép không chụp ảnh khi làm căn cước, không tham gia quân đội, v.v… Trong khi đó các hệ phái/giáo phái khác lại không như vậy. Vậy là có sự chấp nhận bất bình đẳng để có bình đẳng, đấy chính là chiều cạnh của khoan dung tôn giáo.
Vì vậy, khái niệm bình đẳng tôn giáo mà chúng tôi đưa ra ở trên chỉ mang tính toát yếu, đề cập đến những cốt lõi, đến những vấn đề chung nhất.
3. Lịch sử phân định bình đẳng tôn giáo ở Pháp
Về phương diện tôn giáo, nước Pháp được xem là trưởng nữ của Giáo hội Công giáo La Mã. Cho đến thế kỷ XVI khi đạo Tin Lành xuất hiện ở Pháp thì ở quốc gia này toàn bộ cư dân là tín đồ Công giáo.
Kitô giáo ra đời ở phía Đông Đế quốc La Mã - một đế quốc điển hình của chế độ chiến hữu nô lệ. Người sáng lập ra Kitô giáo là Giêsu. Do tuyên truyền về tự do, bình đẳng, bác ái chống lại Đế quốc La Mã, Giêsu bị bắt và bị hành hình bằng cách đóng đinh trên giá gỗ hình chữ thập. Sau khi Giêsu qua đời, những môn đệ của ông tiếp tục truyền bá tư tưởng của ông và theo thời gian một tôn giáo - Kitô giáo - ra đời. Từ thế kỷ IV, thay vì bị đàn áp, Kitô giáo trở thành quốc giáo của Đế quốc La Mã. Từ thời gian đó, Kitô giáo mau chóng phát triển ra toàn La Mã, trong đó có vùng đất sau này hình thành nên nước Pháp.
Vào thời Trung cổ, các nước Tây Âu, trong đó có nước Pháp, thế lực của Giáo hội Công giáo La Mã hết sức to lớn. Giáo hội và xã hội thế tục gắn quyện vào nhau, cộng sinh với nhau. Một quan niệm thịnh hành thời đó là: Chỉ có một xã hội duy nhất lấy Phúc âm làm nền tảng. Trong xã hội có một thân mình duy nhất là Thân mình Đức Kitô được chi phối bởi vai trò của giáo hoàng và hoàng đế, của giám mục và các vua, linh mục và các lãnh chúa. Mặc dù trong Phúc âm có câu: “Của xêda trả về xêda; của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa” (Mt 22, 21)[4] nhưng “Hai quyền lực này có cùng một cứu cánh, ngay cả khi phương diện được sử dụng có khác nhau. Quyền lực này dùng sức mạnh của cánh tay và quyền lực khi dùng sức mạnh của lời nói. Quốc vương được coi như một thừa tác viên thực sự của Giáo hội, như các nghi lễ đăng quang của các hoàng đế và các vua đã thấy”[5].
Do lấn át xã hội thế tục, do có quá nhiều đặc quyền đặc lợi, hàng giáo phẩm Công giáo mà người đứng đầu là Giáo hoàng La Mã ngày càng xa rời thực tế, sống đời sống xa hoa. Một vài Giáo hoàng La Mã do vậy phạm tội trọng cả về phương diện đạo và đời. Tòa án Giáo hội, những lề luật do Giáo hội đặt ra theo thời gian trở thành vật cản kìm hãm xã hội phát triển.
Trước tình hình đó, trong lòng xã hội các nước Tây Âu, nổi lên là các nước Đức, Pháp, Italia, sau này là nước Anh, xuất hiện trào lưu tư tưởng mới nhằm chống lại Giáo hoàng La Mã, xem xét lại Kinh Thánh vốn được xem là nền tảng bất di bất dịch, cũng như cải tổ thể chế Kitô giáo vốn đã và đang trở nên cồng kềnh, lỗi thời. Người khởi xướng đầu tiên là Martin Luther (1483-1546), một tu sĩ dòng Augustinô, giáo sư Kinh Thánh ở Wittenberg. Ngày 31 tháng 10 năm 1517, Luther đã soạn thảo chín mươi lăm luận điểm phê phán “hiệu lực của ân xá” (các ân xá này được coi là có thể chuộc được vạ của một số tội) được đem ra “bán” để giúp việc xây dựng lại đền thánh Phêrô ở Rô Ma. Chín mươi lăm luận điểm nhanh chóng truyền bá khắp nước Đức. Tháng 6 năm 1520, Giáo hoàng La Mã ra chiếu chỉ Exrurge Domine yêu cầu Luther rút lại văn bản. Nhưng vị tu sĩ này chẳng những không rút mà còn tỏ ra cứng rắn trong lập trường. Chẳng những thế, ông còn cho rằng, công đồng không phải là không sai lầm.
Năm 1521, tại Zürich, Zwingli (1484-1531), nhà thuyết giáo và linh mục của nhà thờ có đoàn các kinh sĩ, từ chối trợ cấp do Rôma cấp cho ông. Hai năm sau, Hội đồng Thành phố tổ chức “hai cuộc tranh luận thần học” và thông qua chương trình cải tổ toàn bộ gắn các sửa đổi về đạo đức xã hội với việc đổi mới thần học. Năm 1524, Thánh lễ, được thay bằng nghi thức ngày Chủ nhật, tập trung vào việc thuyết giáo và phần phụng vụ được đơn giản hóa tối đa hơn cả về sau này trong đạo Tin Lành của Luther.
Tư tưởng của Luther và Zwingli đã trở thành ngòi nổ cho những xuộc xung đột ở nước Đức.
Năm 1526, hội nghị thứ nhất ở Spire chấp nhận để các quốc vương tự do lựa chọn tôn giáo cho quốc gia mình. Quyết định này bị xem xét lại tại hội nghị lần thứ hai ở Spire ba năm sau. Năm quốc vương và đại diện mười bốn thành phố tự do đã phản kháng, từ đó tên gọi “những người thệ phản” (Protstants) được đặt cho những người chủ trương cải cách. Tháng 10 năm 1529, những người thệ phản tìm cách thỏa thuận với nhau về thần học trong một cuộc hội thảo tiến hành ở Marbourg. Tiếp sau sự kiện 1529, năm 1536 cuộc cải cách có thêm sinh khí mới khi thành phố Giơneve chuyển sang đạo Tin Lành và Jean Calvin (1509-1564) tới đây hoạt động.
Mặc dù có rất nhiều cố gắng nhưng năm 1555 sự thống nhất tôn giáo của Đế chế Đức chính thức bị phá vỡ. Cuộc cải cách chiến thắng ở các nước Scandinaves, Anh giáo được thiết lập. Hòa ước Augsbousg (1555) đặt nền móng trên sự cùng tồn tại của Công giáo và đạo Tin Lành trong Đế chế Rôma - Đức, trên cơ sở sự thống nhất tôn giáo ở mỗi lãnh thổ (“eujus regio (vùng nào) - ejus religio (tôn giáo ấy)”.
Đây được xem là sự kiện thô sơ của bình đẳng tôn giáo. Đó là hai tôn giáo (Công giáo và đạo Tin Lành) cùng tồn tại. Người dân/tín đồ được tự do đi lại ở các vùng tôn giáo và tự do lưu thông hàng hóa. Có nghĩa là được bình đẳng về dân sự.
Nhưng rồi Hòa ước Augsbousg bị phá vỡ vào năm 1618 với các cuộc xung đột nổ ra, bắt đầu ở Bohême. Khi mà vào năm 1620 những người theo đạo Tin Lành bị đe dọa nghiêm trọng thì vua Thụy Điển Gustave - Adolphe với quân đội được thúc đẩy bởi lòng sùng mộ Luther đã đảo ngược được tình thế. Cho dù cuộc chiến có bị đẩy ra khỏi lĩnh vực tôn giáo với tranh giành quyền bá châu Âu giữa hai dòng họ Habsbourg và Bourbon, nhưng cuối cùng các Hiệp ước Westephalie (1648-1649) được ký kết, chấm dứt cuộc chiến tranh ba mươi năm. Tinh thần vùng nào, tôn giáo ấy (eujus regio - ejus religio) được khẳng định lại nhưng mềm dẻo hơn. Việc công khai niềm tin tôn giáo của mình được thừa nhận cho tất cả những ai thuộc các nghi lễ đã được thiết lập vào năm 1624. Các việc đạo đức riêng tư được chấp nhận và tự do di trú được thừa nhận trở lại.
Như vậy, ít ra đến thời điểm này ở Tây Âu, bình đẳng tôn giáo ngoài việc công nhận sự cùng tồn tại của hai tôn giáo (Công giáo và đạo Tin Lành) còn là việc thừa nhận niềm tin tôn giáo của tín đồ hai tôn giáo, thừa nhận các việc đạo đức riêng tư và tự do cư trú ở vùng khác tôn giáo.
Trở lại nước Pháp, trong khi ở Đức qua hội nghị ở Spire chấp nhận tự do lựa chọn tôn giáo cho mỗi quốc gia thì ở nước Pháp, từ năm 1562, các cuộc chiến tranh tôn giáo xâu xé nước Pháp, nổi lên là cuộc tàn sát ở Saint-Barthe Lemuny (1572). Đến năm 1599, vua Henri IV chấm dứt chiến tranh bằng chỉ dụ Nanter 1598. Chỉ dụ cố gắng tạo ra sự “cùng tồn tại” ở Pháp của Công giáo (của đa số), “tôn giáo của vương quốc” và tôn giáo được coi là cải cách (RPR-religion Prétendue réforméc). Theo đó, các thành viên của tôn giáo này được phép làm tất cả mọi công việc, được tự do tương đối việc cử hành tế tự và có những nơi trú ẩn có quân đội tự vệ. Tuy nhiên ở nước Pháp, chỉ dụ Nanter sau đó đã không được một số triều vua thực hiện. Trong khi bị đàn áp, người Tin Lành khiếp sợ, hàng loạt người ký giấy nhận cải đạo. Vua Louis XIV khẳng định chỉ dụ Nanter không còn lý do tồn tại và thay bằng chỉ dụ Fontainebleau (17/10/1685). Theo đó, các mục sư phải rời bỏ vùng mình cai quản, nhà thờ bị phá hủy, tín đồ bị cấm di cư. Lễ rửa tội, lễ kết hôn, lễ xức dầu thánh theo nghi thức Công giáo được coi là bắt buộc. Trong hoàn cảnh như vậy, hàng ngàn tín đồ Tin Lành phải bỏ chạy ra nước ngoài. Số tín đồ ở lại bề ngoài chấp nhận Công giáo nhưng vẫn bí mật cử hành nghi lễ trong gia đình. Họ nhóm họp thành những cộng đồng. Năm 1715, cộng đồng bí mật đầu tiên được nhóm họp. Đây cũng là thời gian nhiều án tử hình được công bố, các hầm giam và nhà tù chật ních người thệ phản. Năm 1787 một “chỉ dụ khoan hồng” mới thừa nhận trên thực tế sự hiện diện của người thệ phản trong vương quốc nhưng họ không được tự do cử hành nghi lễ tôn giáo. Phải đợi đến cuộc Cách mạng Pháp, cụ thể là năm 1791, quyền tự do tôn giáo mới được công bố.
4. Quyền bình đẳng tôn giáo ở Pháp hiện nay
Đến thời điểm này, qua lịch sử nước Pháp, quyền bình đẳng tôn giáo được bổ sung một khía cạnh, đó là không được đàn áp tôn giáo nhóm nhỏ trong một quốc gia mà ở đó tuyệt đại cư dân thuộc về một tôn giáo - tôn giáo quốc vương - tôn giáo số đông.
Bước vào thời kỳ cận, hiện đại với sự xuất hiện của giai cấp tư sản và sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, một số nước phương Tây, chủ yếu là Tây Âu, cụ thể hơn là nước Pháp, nhận thấy cần thiết phải có sự phân định chính trị, tôn giáo.
Năm 1789, cuộc cách mạng tư sản Pháp bùng nổ và thắng lợi, theo đó là bản Tuyên bố về các quyền con người năm 1791. Đây là khởi điểm tạo ra một hoàn cảnh mới, ý tưởng về dân chủ nẩy mầm ở các giai đoạn tiếp theo. Thất bại của Napoléon, sự phục hồi của các chế độ quân chủ đã gây ra một cuộc bách hại, trong đó Giáo hội Công giáo phải trả giá đắt.
Napoléon xem thường Giáo hoàng La Mã, coi Piô VII là một kẻ bù nhìn. Trong khi đó nhà nước Italia tước các phần lãnh thổ thuộc quyền Giáo hoàng. Rôma tự đặt mình trong tư thế của một thành trì bị vây hãm cho đến năm 1929. Năm này, Giáo hoàng và Nhà nước Italia ký hiệp ước Lateran, công nhận Thành phố Vatican là một nước độc lập theo công pháp quốc tế[6].
5. Pháp luật Pháp về quyền bình đẳng tôn giáo
Cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789) thông qua Hiến pháp, tuyên ngôn (tuyên ngôn nhân quyền ngày 26/8/1789) và các sắc lệnh, luật đã từng bước giải quyết các vấn đề cơ bản của tôn giáo trong lĩnh vực tôn giáo cũng như lĩnh vực dân sự, tạo sự bình đẳng các tôn giáo hiện diện ở quốc gia này giữa người Công giáo với người Tin Lành, người Do Thái. Ngày 9/12/1905, nước Pháp ban hành Luật về sự phân ly giữa Giáo hội và Nhà nước, quen gọi là “Luật phân ly - 1905”. Luật phân ly trước hết tách “Nhà thờ” ra khỏi Nhà nước, đặt nền móng cho thể chế nhà nước thế tục Pháp (thể hiện trong Hiến pháp năm 1956).
Điều 2, Luật Phân ly (1905) nêu nguyên tắc không công nhận tôn giáo: “chính thể cộng hòa không công nhận, không trả lương, không trợ cấp cho bất kỳ tôn giáo nào”. Tác giả Patrice Rolland (giáo sư Đại học Paris XII) trong bài “Sự phân lập là một hình thức điều chỉnh đa nguyên tôn giáo về mặt pháp lý”[7] có những bình luận sau đây. Đó là:
Một hình thức mới điều chỉnh sự kiện tôn giáo, đó là điều chỉnh về pháp lý, để phân biệt chính trị như trước… cho phép mỗi tôn giáo được tiếp cận một quy chế tự do mà không cần sự đồng ý của chính quyền, chính quyền chỉ có thể dựa vào luật pháp để ngăn cản việc tiếp cận quy chế này.
Luật năm 1905 và thuyết đa nguyên tôn giáo. Trong hệ thống các tôn giáo được công nhận, đã tồn tại một hình thức đa nguyên tôn giáo. Tuy nhiên thuyết đa nguyên tôn giáo này còn ít được coi trọng vì các cộng đồng không theo Công giáo chiếm đa số ít và thường ở phân tán. Luật năm 1905 mở ra một tiềm năng lớn hơn về đa nguyên tôn giáo khi công bố quyền tự do ý thức và tự do cho tất cả các tôn giáo.
Tính trung lập của Nhà nước, thuyết đa nguyên và sự điều chỉnh vấn đề tôn giáo. Tính trung lập của Nhà nước đối với các tôn giáo không có nghĩa là nhà nước phải đối xử công bằng một cách trừu tượng với tất cả các tôn giáo, vì các tôn giáo không ở trong cùng một hoàn cảnh (vì các lý do lịch sử, xã hội, dân số…). Việc không phân biệt đối xử yêu cầu mọi tôn giáo đều phải có cùng một quyền tự to tôn giáo nhưng không nhất thiết phải theo cùng một quy chế. Lịch sử riêng mỗi nước có tính đặc thù. Do đó, bản thân việc điều chỉnh sự đa nguyên tôn giáo cũng có thể khác nhau, nghĩa là không trung lập, mặc dù việc điều chỉnh này không được mang tính phân biệt đối xử.
Thông qua Luật Phân ly (1905) và những bình luận của Patrice Rolland cho thấy thêm những chiều cạnh của bình đẳng tôn giáo như: i) Nhà nước tách khỏi Giáo hội, là nhà nước trung lập, không cung cấp kinh phí, tài chính cho tôn giáo. Nhà nước nhìn nhận, điều chỉnh tôn giáo bằng pháp luật không phải bằng điều chỉnh chính trị. Nhà nước không phân biệt đối xử đối với các tôn giáo; ii) Chấp nhận đa nguyên tôn giáo, đa nguyên tôn giáo mở rộng hơn ở các nội dung tự do ý thức và tự do cho tất cả các tôn giáo, các tôn giáo đều được đối xử bình đẳng; iii) Bình đẳng tôn giáo phải đi đôi với quyền tự do tôn giáo của mọi người cũng như của từng tôn giáo; iv) Đối xử công bằng không có nghĩa là thực hiện một cách trừu tượng mà phải tính đến những yếu tố lịch sử, xã hội, dân số… của mỗi một tôn giáo.
Ghi chú:
1. Hoàng Văn Chung (2018), Biến đổi quyền tự do tôn giáo trong phát triển bền vững ở Việt Nam, Đề tài cấp Bộ, Bản vi tính, Hà Nội, tr. 42 - 43.
2. Hoàng Văn Chung (2018), Biến đổi quyền tự do tôn giáo trong phát triển bền vững ở Việt Nam, Tlđd, tr. 42 - 43.
3. Hoàng Văn Chung (2018), Biến đổi quyền tự do tôn giáo trong phát triển bền vững ở Việt Nam,Tlđd, tr. 44 - 45.
4. Đây là cách chú thích của Kitô giáo khi trích dẫn Kinh Thánh. (Mt 22, 21) được hiểu câu này được trích ở Phúc âm Mátthêu, đoạn 22, dòng 21.
5. Jean RoGues, Công giáo trong Kitô giáo. Bản đánh máy vi tính lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Tôn giáo, tr. 111.
6. Viết phần này chúng tôi biên soạn theo bài thuyết trình Đạo Tin Lành của Jean Baubérot tại Viện Nghiên cứu Tôn giáo năm 2006, lưu tại Thư viện.
4. Xem: Nguyễn Hồng Dương, P. Hoffman (chủ biên, 2011), Đa dạng tôn giáo: So sánh Pháp - Việt Nam, Nxb. Văn hóa - Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội, tr. 329-351.
Danh mục tài liệu tham khảo:
1. Alexandre de Rhodes (1993), Phép giảng tám ngày (bản dịch tiếng Việt), UBĐKCG Thành phố Hồ Chí Minh;
2. Hoàng Văn Chung (2018), Biến đổi quyền tự do tôn giáo trong phát triển bền vững ở Việt Nam, Đề tài cấp Bộ, bản vi tính, Hà Nội;
3. Bình đẳng tôn giáo – diễn trình và khái niệm; Nguyễn Hồng Dương (Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 6 (186), 2019, 3-24.