Mục lục bài viết
1. Khái quát chung
Những người tham gia thương trường đầu tiên có lẽ là những cá nhân mong muốn tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ. Giống như các chủ thể khác của luật dân sự, những cá nhân này phải chịu trách nhiệm đến cùng, hay nói cách khác, bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ, có nghĩa là họ phải chịu trách nhiệm đến cùng đối với những hành vi thương mại của mình. Đây là một tính châ't điển hình của thương nhân mà, có lẽ sau này, người ta, vì thế, đã tìm kiếm các giải pháp khắc phục bằng các loại hình công ty thông qua chê' độ trách nhiệm. Cá nhân kinh doanh thường được gọi là thương nhân đơn lẻ hay doanh nghiệp cá thể (sole trader hay sole proprietorship). Nhưng ở Việt Nam con đường hình thành các thương nhân đơn lẻ có đôi điều khác biệt.
.png)
>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900.6162
2. Thời kỳ pháp thuộc
Ở thời kỳ trước khi người Pháp xâm chiêm, đời sông nông nghiệp, chính sách bế quan tỏa cảng, và sự ảnh hưởng của Khổng giáo, cũng như chế độ đại gia đình gia trưởng khiến thương mại không phát triển. Do vậy các hình thức kinh doanh có lẽ không được chú ý. Có chăng trong quan hệ buôn bán, hộ gia đình là thành phần lâh át. Khi xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp, vói chế độ công hữu hóa tư liệu sản xuâ't, tầng lớp thương nhân mói nhen nhóm đã vụt tắt. Còn lại chăng chỉ là những người chạy chợ lo toan bát cơm, manh áo hàng ngày, và một SỐ hộ kinh doanh nhỏ lẻ ở một số ngành nghề liên quan tới tiêu dùng hoặc những thành phần đang trong quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa. Khi đường lôì đổi mới được thực thi, bằng sự nỗ lực chủ quan của Nhà nước, tầng lớp thưong nhân dần dà được hổi sinh mà trong đó trước tiên là các cá nhân kinh doanh hay thượng,nhân thề’ nhân. Vì vậy các thương nhân ở Việt Nam hiện hay (kể cả thựơng nhân thể nhân và thương nhân pháp nhân) mang đậm dâu .tích của sự nỗ lực chủ quan của Nhà nước, khác phần nào đó với các thương nhân được hình thành một cách tự nhiên, bình thường ở các nước có truyền thông kinh tế thị trường mả ở đổ. họ chỉ bị nhà nước kiểm soát. Vì vậy việc nghiên cứu sự nồ lực chủ quán này giúp hiểu biê't rõ hơn vê' thương nhân ở Việt Nam. Nó.không chỉ có ý nghĩa cho hoạt động thực tiễn, mà còn có ý nghĩa cho công cuộc cải cách pháp luật.
3. Sau giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước
Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đâ't nước, việc cải tạo công thương nghiệp để xây dựng nền kinh tê'kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cập đã dẫn tới rất nhiều vấn đê' nan giải của nền. kinh tế. Nhân dân tủng thiêù, đói kém. Đứng trước tình hình đó Dảtig đã phân tích nguyên nhân và xây dựng đường lôi, chính sáộh đệ’ khắc phục. Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đưa ra giải pháp: "‘Khuyên khích phát triển kinh tê' gia đình. Sử dụng khả năng tích cực của kinh tế tiểu sản xuâ't hàng hóa, đổng thời vận .dụng và tổ chức những người lao động cá thê’ vào các hình thức làm ăn ■tập thể đê’ nâng cao hiệu quả sản xuâ't, kinh doanh; sắp xếp, cải tạo và. sử dụng tiểu thương, giúp đỡ những người không cần thiết trong -lĩnh vực lưu thông chuyển sang sản xuâ't và dịch vụ. Sử dụng kinh tê' tư bản tư nhân (tư sản nhỏ) trong một sô' ngành, nghề, đi đôi với cải tạo họ từng bước bằng nhiều hình thức tư bàn nhà nước, xóa bỏ thương nghiệp tư bản tư nhân. Mở rộng < nhiều hình thức liên kết giữa các thành phần kinh tê'theo nguyên tăc cùng có lợi, bình đăng trước pháp luật" .
4. Tại Hội nghị lần thứ hai của Ban chấp hành trung ương Đảng
Thi hành đường lôi của Đại hội VI, tại Hội nghị lần thứ hai của Ban Châp hành Trung ương Đảng khóa VI, trong lời khai mạc, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh nói: "Không phải ngẫu nhiên mà đê' tài trung tâm của Hội nghị Trung ương lẩn thứ hai là vân đê' phân phối, lưu thông. Từ năm 1981 đêh nay, đã nhiều lần Trung ương bàn bạc và quyết định, nhưng tình hình chẳng những không được cải thiện, mà ngày càng trầm trọng hơn. Hiện nay, nó đang là vâh đê' cấp bách và cơ bản, là tụ điểm của những mâu thuân trong đời sống kinh tế nước ta. Đại hội Đảng toàn quôc lẩn thứ VI đã giao cho Ban Châp hành Trung ương mới tập trung sức giải quyết vân đề này. Trách nhiệm của chúng ta, của mỗi ủy viên trung ương và toàn thể Ban Châp hành Trung ương là phải trả lời thẳng vào những vân đê' bức xúc nói trên của cuộc sống, đáp ứng được lòng mong đợi nóng bỏng và chính đáng của nhân dân" . Tiêp đó Báo cáo của Bộ Chính trị vê' giải quyết những vân đê' câp bách vê' phân phối, lưu thông đã kiến nghị như sau: "Ban hành văn bản thể chê'hóa và cụ thể hóa chính sách đôì vói kinh tế cá thê’ và kinh tế tư bản tư nhân theo tinh thần Nghị quyê’t Đại hội VI để họ an tâm bỏ vốn sản xuất, kinh doanh... Đổi với các cơ sở sản xuâ’t tiểu, thủ công nghiệp (tập thể, gia đình, cá thể, và tư bản tư nhân), Nhà nước bán vật tư, mua sản phẩm theo giá thỏa thuận thông qua họp đồng kinh tế trên nguyên tắc bình đẳng" .
Hội nghị đã ra Nghị quyết chỉ đạo: "Thể chế hóa và cụ thể hóa chính sách đôi với kinh tế cá thể và kinh tê’ tư bản tư nhân theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng để mọi người yên tâm bỏ vốn sản xuất, kinh doanh. Theo hướng dẫn của Trung ương, các tinh, thành phô’ qui định những ngành nghề và phạm vi hoạt động của các thành phẩn kinh tê'nói trên. Khuyên khích các hình thức hùn vốn, hợp tác, làm ăn tập thể từ thấp đêh cao và các hình thức liên kết với các thành phần kinh tếxã hội chủ nghĩa" .
Để đáp ứng nhu cầu bức bách của toàn xã hội, ngay sau Hội nghị, Hội đồng Bộ trưởng lúc đó đã ra Nghị định sô' 27 - HĐBT ngày 9/3/1988 ban hành Bản qui định về chính sách đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuâ't công nghiệp, dịch vụ công nghiệp xây dựng, vận tải "Để thê’ chế hóa các chủ trương mới đã nêu trong Nghị quyết Đại lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam và Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Châ'p hành Trung ương Đảng đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây dựng, vận tải; Để giải phóng mọi lực lượng sản xuâ't, phát huy khả năng của mọi thành phần kinh tê', huy động khả năng của nhân dân phát triển sản xuâ't hàng hóa và dịch vụ sản xuất phục vụ đời sống và phục vụ xuất khẩu; Để phát triển kinh tê' cá thể, kinh tê' tư doanh, kết họp chặt chẽ kinh tê'cá thể, kinh tế tư doanh với kinh tếquôc doanh và kinh tê' tập thế" (Lời nói đầu của Nghị định).
Nghị định này đưa ra các tuyên ngôn có tính cách mạng rằng: (1) Công nhận sự tổn tại và các tác dụng lâu dài của các thành phần kinh tê' cá thể, kinh tê' tư doanh; (2) Nhà nước tạo điều kiện cho các thành phần kinh tê' này hoạt động và phát triển; (3) Nhà nước công nhận và bảo hộ quyêh sở hữu, quyền thừa kê'tài sản và thu nhập hợp pháp của các đơn vị kinh tê'và của công dân thuộc thành phần kinh tê'này; và (4) "Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân của các đơn vị kinh tê' thuộc các thành phần kinh tê' này trong xã hội" (Điều 1, Bản qui định ban hành kèm theo Nghị định 27 - HĐBT). Các tuyên ngôn này, sau một thời gian không ngắn, đã thực sự lâ'y được lòng tin của người đầu tư. Ba tuyên ngôn đầu có ý nghĩa râ't lớn cả về mặt chính trị pháp lý, và cả vê' mặt kỹ thuật pháp lý. Tuy nhiên tuyên ngôn thứ tư râ't khó hiểu. Có lẽ cần phải lần tìm lại quan niệm vể tư cách pháp nhân thời bâỳ giờ trong đời sôhg dân dã. Có lẽ tư cách pháp nhân lúc đó được nhận thức đon giản là tư cách tham dự vào các giao dịch. Thực ra hẩu hết các hình thức kinh doanh lúc bâỳ giờ không phải là pháp nhân như quan niệm của các nước trên thế giới và quan niệm của Việt Nam hiện nay.
Theo Bản qui định ban hành kèm theo Nghị định 27 - HĐBT, các đơn vị kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh được xem là các đơn vị kinh tế tự quản có tư liệu sản xuất và các vốn khác, tự quyết định mọi vân đê' sản xuâ't kinh doanh, tự chịu trách nhiệm vê' thu nhập, lỗ lãi. Các đơn vị kinh tế này được tổ chức theo những hình thức: (1) Hộ cá thể; (2) hộ tiêù công nghiệp; và (3) xí nghiệp tư doanh. Từ các hình thức này dần dà tiến tới hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân và các công ty ngày nay ở Việt Nam.
5. Điều kiện hoạt động của Hộ kinh doanh cá thể
Hộ cá thể, theo Bản qui định này, có các điều kiện sau: (i) Tư liệu sản xuâ't và các vốn khác thuộc quyển sở hữu của người đứng tên đăng ký kinh doanh; (ii) chủ đăng ký kinh doanh phải là người lao động trực tiếp; (Ịii) những người lao động khác phải là bố mẹ, vợ chổng, con hoặc những người thân khác có tên trong sổ đăng ký hộ khẩu của người đứng tên đăng ký kinh doanh; (iiii) thu nhập sau khi đóng thuế thuộc quyền sở hữu của chủ hộ (Điều 1). Có thể hiểu đây chính là cá nhân kinh doanh hay thương nhân thể nhân tiến hành hoạt động kinh doanh cho chính mình. Dâù ẵh gia đình Việt Nam và dâù âh quan niệm vê' các thành phần kinh tế trong cơ chế cũ vẫn còn đó. Và thậm chí cho đến ngày nay, người ta vẫn gọi cá nhân kinh doanh là "hộ kinh doanh".
Hộ tiểu công nghiệp, theo Bản qui định này, khác hộ cá thể ở chỗ: (!) Là các công xưởng hay các cửa hàng; (!!) được thuê mướn lao động theo hợp đồng giữa chủ và người làm thuê; và (!!!) chủ hộ có thể là người đóng vai trò chính vê' kỹ thuật sản xuâ't và tự điều hành sản xuâ't kinh doanh (Điều 1). Bản chãt của hộ tiểu công nghiệp cũng là cá nhân kinh doanh hay thương nhân thê’ nhân, nhưng có sản nghiệp thương mại hay cơ sở kinh doanh.
Xí nghiệp tư doanh, theo Bản qui định này, là các tổ chức sản xuất kinh doanh cùng tính châ't như công ty tư doanh, công ty cổ phần, tổ hợp tư doanh. Xí nghiệp tư doanh có thể có một chủ sở hữu hoặc nhiều chủ sở hữu được gọi chung là "chủ xí nghiệp". "Những người góp cổ phần tự lựa chọn người đại diện để đăng ký kinh doanh và quản lý xí nghiệp". Qui định này rất khó hiểu. Có lẽ việc "góp cổ phần" ở đây chỉ đơn thuần là việc đưa vôh vào để kinh doanh. Và việc đăng ký kinh doanh theo tư cách của người đại diện chứ không phải theo tư cách của xí nghiệp. Hình thức tổ chức kinh doanh này có lẽ xuất phát từ ý tưởng tạo lập các thương hội như các thương hội có tư cách pháp nhân. Nhưng Bản qui định lại xác định: "Tư liệu sản xuất và các vôh khác thuộc sở hữu của chủ xí nghiệp", chứ không phải là thuộc quyêh sở hữu của xí nghiệp. Do đó có thể hiểu các xí nghiệp này không có tư cách pháp nhân. Cũng có cách hiểu khác là qui định như vậy làm cho người đẩu tư thời đó an tâm, bởi quan niệm chung về pháp nhân thời đó rất hạn hẹp.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê