1. Khái niệm lỗi

Lỗi là điều sai sót, không nên, không phải trong cách cư xử, hành động trong đời số hàng ngày, theo đó, lỗi được đồng nhất với hành vi, tuy nhiên trong quan hệ pháp lý lỗi được nhìn nhân dưới góc độ trạng thái tâm lý.

Theo các sách báo pháp lý, Lỗi được định nghĩa là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi có tính gây thiệt hại cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức vô ý và cố ý.

Là mặt hình thức của lỗi, quan hệ tâm lý ở đây bao gồm yếu tố lý trí và ý chí. Hai yếu tố này thể hiện năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi của con người là yếu tố tâm lý cần thiết của mọi hành vi của con người.

Nhìn chung định nghĩa này đã phản ánh chung nhất đặc điểm của yếu tố lỗi trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

2. Các hình thức lỗi

- Lỗi cố ý trực tiếp là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.

- Lỗi cố ý gián tiếp là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức dể mặc cho hậu quả xảy ra

- Lỗi vô ý vì quả tự tin là trường hợp người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.

>> Xem thêm:  Môi trường là gì ? Vai trò của môi trường là gì ? Quy định pháp luật về bảo vệ môi trường ?

- Lỗi vô ý vì cẩu thả là trường hợp người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

3. Đặc điểm của lỗi

Một hành vi được coi là có lỗi khi có đủ hai điều kiện sau:
(i) Hành vi trái pháp luật hình sự: là những hành vi thực hiện không đúng quy định của pháp luật, xâ phạm tới khách thể mà luật hình sự bảo vệ.
(ii) Hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của người thực hiện hành vi khi có khả năng và điều kiện để lựa chọn và quyết định xử sự khác không trái pháp luật hình sự.
Để xác định được người thực hiện hành vi nguy hiểm, gây thiệt hại cho xã hội có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó hay không, ta cần xác định tính có lỗi của tội phạm. Lỗi là một yếu tố quan trọng để nhận biết tội phạm, nó là yếu tố bên trong và là nguyên nhân chủ quan của tội phạm.Ví dụ: Xuất phát từ mâu thuẫn nhà đất, A ra tay đánh B gây thương tích với tỷ lệ thương tật là trên 20%. Trong trường hợp này, hành vi ra tay đánh B của A là hành vi có lỗi, nó xuất phát từ yếu tố tâm lý bên trong của A làm A mất kiểm soát và đã dẫn tới việc A thực hiện hành vi mang tính nguy hiểm cho xã hội mà đối tượng trực tiếp ở đây là quyền con người được Nhà nước thông qua pháp luật Hình sự bảo vệ. Đây là kết quả của sự tự lựa chọn đưa ra quyết định của A trong khi A có thể đưa ra sự lựa chọn khác không trái với quy định của pháp luật.
Chủ thể của một hành vi được coi là có lỗi khi thỏa mãn 2 điều kiện: đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không bị mất năng lực hành vi theo quy định của pháp luật.

>> Xem thêm:  Phát triển bền vững là gì ? Quy định pháp luật về phát triển bền vững

4. Khái niệm lỗi cố ý

Lỗi cố ý là lỗi trong trường hợp chủ thể có ý thức lựa chọn hành vi phạm tội mặc dù có đủ điều kiện lựa chọn xử sự khác không nguy hiểm cho xã hội.

Lỗi cố ý là một trong hai loại lỗi theo Luật hình sự Việt Nam. Trong đó, lỗi cố ý có tính nguy hiểm cao hơn. Loại lỗi này đòi hỏi các dấu hiệu:

1) Hành vi khách quan mà chủ thể thực hiện là hành vị có tính chất phạm tội (hành vi có các dấu hiệu khách quan mà cấu thành tội phạm đòi hỏi);

2) Chủ thể ý thức được tính chất phạm tội của hành vi được thực hiện;

3) Chủ thể đã lựa chọn hành vi có tính chất phạm tội đó khi có điều kiện lựa chọn hành vị khác.

Lỗi cố ý là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra theo Điều 364 Bộ Luật tố tụng dân sự.

Theo quy định tại điều 10, Bộ Luật hình sự 2015, quy định về Cố ý phạm tội như sau:

“ Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;

>> Xem thêm:  Thủ tục xin nghỉ việc theo quy định pháp luật mới năm 2022

2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.”

5. Phân loại lỗi cố ý

Tại Điều 9 của BLHS, cố ý phạm tội bao gồm hai trường hợp:

5.1 Lỗi cố ý trực tiếp

Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội. Thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xẩy ra. Để bị coi là có lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội phải có đầy đủ ba điều kiện:

(1) Nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội (ví dụ: biết là cầm giao đâm vào người khác sẽ gây nguy hiểm cho người bị đâm, phóng nhanh vượt ẩu sẽ gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông…).

(2) Thấy trước hậu quả của hành vi đó (ví dụ: biết là cầm giao đâm người khác)

(3) Mong muốn hậu quả xẩy ra (ví dụ: mong muốn người bị đâm chết hoặc thương tích…).

>> Xem thêm:  Ủy nhiệm chi là gì ? Quy định pháp luật về ủy nhiệm chi

5.2 Lỗi cố ý gián tiếp

Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội; thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xẩy ra; tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc hậu quả xẩy ra. Yếu tố lỗi cố ý gián tiếp khác với yếu tố lỗi cố ý trực tiếp ở điều kiện thứ ba. Tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc hậu quả xẩy ra. Ví dụ: anh A thấy B bị tai nạn sắp chết, tuy không mong muốn B chết nhưng A vẫn làm ngơ và bỏ đi vì đang bận có hẹn với bạn bè.

Ngoài cách chia chính thức lỗi cố ý như trên, loại lỗi này còn có thể được chia thành cố ý xác định và cố ý không xác định cũng như được chia thành cố ý có dự mưu và cố ý đột xuất. Trong đó, cố ý xác định được hiểu là trường hợp, trong đó, hậu quả của tội phạm được xác định cụ thể trong ý thức người phạm tội. Ví dụ: Lỗi trong trường hợp lấy trộm một chiếc xe đạp cụ thể là lỗi cố ý xác định. Còn cố ý không xác định là trường hợp, trong đó, mức độ hậu quả không được xác định cụ thể trong ý thức người phạm tội. Ví dụ: Lỗi trong trường hợp lấy trộm một túi xách nhưng chưa biết cụ thể trong túi có gì là lỗi cố ý không xác định. Cố ý có dự mưu là trường hợp trong đó chủ thể đã có. sự suy nghĩ, cân nhắc kĩ càng trước khi thực hiện hành vi phạm tội. Còn cố ý không có dự mưu là trường hợp trong đó chủ thể vừa có ý định phạm tội đã thực hiện ngay ý định đó, chưa kịp có sự cân nhắc kĩ.

6. Phân biệt lỗi cố ý gián tiếp và lỗi vô ý vì quá tự tin trong hình sự

6.1 Lỗi cố ý gián tiếp

Theo quy định của Bộ luật Hình sự, lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

Lỗi cố ý gián tiếp có đặc điểm sau:

- Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện, thấy trước hành vi đó có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội.

- Về ý chí: Người phạm tội không mong muốn hậu quả xảy ra. Nghĩa là hậu quả xảy ra không phù hợp với mục đích phạm tội. Tuy nhiên để thực hiện mục đích này, người phạm tội chấp nhận hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà hành vi của mình có thể gây ra.

Ví dụ: Hai hôm trước gia đình ông Nguyễn Văn A trong lúc thi công đổ mái nhà đã làm rơi một ván gỗ xuống dưới đường dẫn tới anh Hoàng Văn B bị tử vong do vô tình đi ngang qua đó và bị ván gỗ rơi trúng người. Dù biết nhà gần đường và có nhiều người qua lại nhưng ông A không làm biện pháp phòng tránh nào dẫn tới hậu quả anh B tử vong. Hành vi của ông A là hành vi cố ý gián tiếp để mặc hậu quả xảy ra dù đã biết trước.

6.2 Lỗi vô ý vì quá tự tin

>> Xem thêm:  Phân loại nợ xấu theo quy định pháp luật ? Các thức kiểm tra nợ xấu ?

Lỗi vô ý vì quá tự tin là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.
Lỗi vô ý vì quá tự tin có đặc điểm sau:

- Về lý trí: Người phạm tội nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, thể hiện ở việc họ thấy trước hậu quả nguy hại cho xã hội mà hành vi của mình có thể gây ra.

- Về ý chí: Người phạm tội không mong muốn hành vi của mình sẽ gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội. Sự không mong muốn này thể hiện ở việc người thực hiện hành vi phạm tội cho rằng hậu quả không xảy ra hoặc ngăn ngừa được dựa trên sự cân nhắc, phán đoán trước khi thực hiện hành vi. Tuy nhiên hậu quả nguy hại cho xã hội đã xảy ra và nằm ngoài dự tính của họ.

Ví dụ: Khi phẫu thuật cho bệnh nhân, bác sĩ Nguyễn Văn X vì quá tự tin vào khả năng của mình nên cho rằng đây là một ca dễ, ông đã tự làm mà không mời thêm chuyên gia nào để hội chuẩn trước khi phẫu thuật dẫn tới hậu quả bệnh nhân đã tử vong do mất máu quá nhiều. Hành vi của bác sĩ X đã vô ý gây ra cái chết cho bệnh nhân do sự tự tin của mình, tuy không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng cho rằng mình có thể ngăn được nên chủ quan.

Như vậy: Lỗi cố ý gián tiếp và lỗi vô ý vì quá tự tin giống nhau ở chỗ người thực hiện hành vi nguy hại cho xã hội đều nhận thức được hậu quả nguy hại cho xã hộii mà hành vi của mình có thể gây ra và đều không mong muốn hậu quả đó xảy ra.

Lỗi cố ý gián tiếp và lỗi vô ý vì quá tự tin có một điểm khác nhau cơ bản, đó là: ở lỗi cố ý gián tiếp, người thực hiện hành vi chấp nhận khả năng hậu quả xảy ra khi lựa chọn và thực hiện hành vi. Còn ở lỗi vô ý vì quá tự tin, người thực hiện hành vi loại trừ khả năng hậu quả xảy ra và tin rằng hậu quả không xảy ra.

Ngoài ra, nếu còn vấn đề vướng mắc hoặc băn khoăn về những nội dung trên hoặc các nội dung khác liên quan tới giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Toà án, Quý khách hàng có thể liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến 1900.6162 để được giải đáp thêm.

Trân trọng./

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Đất thổ cư là gì ? Khái niệm về đất thổ cư theo quy định pháp luật