- 1. Quy định chung về loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
- 2. Trường hợp “thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại”
- 3. Hạn chế của Bộ luật dân sự trước đây về loại trừ trách nhiệm bồi thường
- 4. Những điểm mới của Bộ Luật dân sự hiện hành về loại bỏ trách nhiệm bồi thường
- 5. Mâu thuẫn khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi vô ý
1. Quy định chung về loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
- Cơ sở pháp lý: Khoản 3 điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 được quy định như sau:
"Điều 601. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
...
3. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:
a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;
b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."
Theo quy định tại khoản 3 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015, khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được loại trừ trong 3 trường hợp:
- Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;
- Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng;
- Thiệt hại xảy ra trong tình thế cấp thiết.
Trân trọng!
2. Trường hợp “thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại”
Đây là sự khác biệt trong căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra so với căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các loại tài sản khác gây ra. Thông thường, khi thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì sẽ không phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ thể có liên quan.
Nội dung này đã được quy định khoản 2 Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015.
"Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
...
2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác."
Theo những quy định này, chỉ cần người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi thì dù lỗi đó là cố ý hay vô ý, chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu, sử dụng tài sản sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thường.
Về cơ bản, quy định này là phù hợp, bởi vì một chủ thể chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói riêng khi họ có lỗi đối với thiệt hại xảy ra.
Tuy nhiên, khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, người bị thiệt hại phải hoàn toàn có lỗi cố ý thì chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng mới được loại trừ trách nhiệm. Nếu người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi nhưng lỗi đó là vô ý thì chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ vẫn phải bồi thường thiệt hại.
Quy định trên cho thấy chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải chịu trách nhiệm quản lý ở mức độ cao hơn chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng các loại tài sản khác. Họ không những phải quản lý nguồn nguy hiểm cao độ, ngăn chặn nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, mà còn phải ngăn chặn người bị thiệt hại cũng như các chủ thể khác tiếp xúc với nguồn nguy hiểm cao độ thuộc sở hữu của mình hoặc do mình quản lý. Chỉ khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ chứng minh được mình đã quản lý tốt nguồn nguy hiểm cao độ, đồng thời đã ngăn cản người bị thiệt hại tiếp xúc nhưng họ vẫn cố tình tiếp cận, thì khi đó trách nhiệm bồi thường thiệt hại mới được loại trừ. Việc ngăn cản người khác tiếp xúc với nguồn nguy hiểm cao độ có thể diễn ra trực tiếp bằng hành động ngăn cản, hoặc thực hiện các hành vi nhằm tạo ra một khoảng cách tiếp xúc an toàn đối với những người xung quanh (làm rào chắn), hoặc thực hiện các hành vi nhằm cảnh báo nguy hiểm để những người xung quanh có thể biết mà đề phòng.
Khi bàn về yếu tố lỗi của người bị thiệt hại, một vấn đề khác cũng cần phải được xem xét đó là nếu người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi vô ý hoặc có một phần lỗi thì người chịu trách nhiệm cổ được giảm mức bồi thường không? Tức là người bị thiệt hại được bồi thường toàn bộ hay chỉ được bồi thường một phần còn phần thiệt hại tương ứng do lỗi của họ gây ra sẽ không được bồi thường.
Trân trọng!
3. Hạn chế của Bộ luật dân sự trước đây về loại trừ trách nhiệm bồi thường
Trong Bộ luật dân sự trước đây, trường hợp “người bị thiệt hại cũng có một phần lỗi” được quy định trong một trường hợp bồi thường thiệt hại cụ thể (Điều 617). Dựa vào quy định của Điều 617 của Bộ luật đó chúng ta có thể hiểu rằng tinh thần của điều này là chỉ áp dụng với trường hợp thiệt hại do hành vi gây ra.
Ví dụ A phóng nhanh vượt ẩu lao vào B đi ngược chiều..., chứ không áp dụng với trường hợp thiệt hại do tài sản nói chung, nguồn nguy hiểm cao độ nói riêng gây ra. Sở dĩ nghiên cứu đưa ra khẳng định này là bởi vì trong Điều 617 của Bộ luật, thay vì sử dụng cụm từ “người chịu trách nhiệm bồi thường”, các nhà làm luật lại sử dụng cụm từ “người gây thiệt hại” và lặp đi lặp lại hai lần.
Cụm từ “người gây thiệt hại” chỉ có thể phù hợp để sử dụng trong trường hợp thiệt hại do hành vi của con người gây ra chứ không phù hợp để sử dụng đối với trường hợp thiệt hại do tài sản nói chung, nguồn nguy hiểm cao độ nói riêng gây ra.
Do đó, có thể hiểu theo tinh thần của Bộ luật, khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại hoặc là sẽ bồi thường theo nguyên tắc bồi thường toàn bộ hoặc là trách nhiệm bồi thường sẽ được loại trừ, chứ không có trường hợp người bị thiệt hại chỉ được bồi thường một phần vì cũng có một phần lỗi. Đây có thể coi là một điểm hạn chế của quy định về bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại cũng có lỗi trong Bộ luật.
Trân trọng!
4. Những điểm mới của Bộ Luật dân sự hiện hành về loại bỏ trách nhiệm bồi thường
Những hạn chế của Bộ luật dân sự trước ta vừa phân tích ở trên đã được khắc phục bởi các quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015. Tại Khoản 4 Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:
“Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.
Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại."
Đây là quy định nằm trong phần nguyên tắc bồi thường thiệt hại và thuộc mục những quy định chung. Theo logic chung thì những quy định chung sẽ áp dụng với cả truờng hợp bồi thường thiệt hại do hành vi và do tài sản gây ra. Theo đó, khi người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi vô ý hoặc có một phần lỗi thì họ sẽ không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
Ngoài ra, khoản 2 Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015 còn quy định:
“ Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
Như vậy, nếu nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại mà chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng không có lỗi nhưng người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi vô ý thì thiệt hại không được loại trừ, nhưng chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu, sử dụng có thể được xem xét để giảm mức bồi thường thiệt hại, song phải chứng minh thiệt hại lớn hơn khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình. Tuy nhiên, việc có được giảm hay không và giảm bao nhiêu lại phụ thuộc vào đánh giá của tòa án trên cơ sở căn cứ vào những chứng cứ mà đương sự cung cấp.
5. Mâu thuẫn khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi vô ý
Một vấn đề có thể nhận thấy đó là sự mâu thuẫn giữa khoản 2 và khoản 4 Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015 trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại mà người bị thiệt hại hoàn toàn có lồi vô ý.
"Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra..."
Trường hợp này phải áp dụng quy định tại khoản 2 để xem xét giảm mức bồi thường hay áp dụng quy định tại khoản 4 để xác định phần thiệt hại mà người bị thiệt hại không được bồi thường.
Như vậy, rõ ràng là việc áp dụng quy định tại khoản 4 sẽ có lợi cho người phải bồi thường, vì họ không phải chứng minh khả năng kinh tế của mình, mà đương nhiên không phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng do lỗi của người bị thiệt hại gây ra. Tuy nhiên, trong trường họp người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi vô ý, tức là chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ sẽ được coi là không có lỗi. Nếu áp dụng quy định tại khoản 4 Bộ luật dân sự năm 2015 để xác định phàn thiệt hại tương ứng do lỗi của người bị thiệt hại gây ra thì người bị thiệt hại sẽ không được bồi thường bất cứ phần thiệt hại nào.
Điều này là không hợp lý vì mâu thuẫn với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: "Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây: (a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại; (b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."
Do đó, chỉ có thể áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 585 về nguyên tắc bồi thường thiệt hại để xem xét giảm mức bồi thường thiệt hại mà không áp dụng khoản 4. Nhưng để đảm bảo sự phù hợp giữa các quy định, khoản 4 Điều 585 phải được sửa đổi theo hướng thêm cụm từ “trừ trường hợp luật có quy định khác” vào khoản 4 Điều 585: "Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra."
Trân trọng!