1. Lời của Đức Phật về bốn sự thật cao quý  

Bốn Sự Thật Cao Quý ấy là gì?

+ Sự Thật Cao Quý về Khổ (dukkha);

+ Sự Thật Cao Quý về Nguyên Nhân của Khổ (dukkha- samudaya);

+ Sự Thật Cao Quý về Sự Chấm Dứt của Khổ (dukkha- nirodha);

+ Sự Thật Cao Quý về Con Đường đưa đến Sự Chấm Dứt của Khổ (dukkha-nirodha-gāmini-paipadā).

Cho đến khi nào chân lý và trí tuệ về Bốn Sự Thật Cao Quý chưa được thấu hiểu tường tận ở nơi Ta, thì cho đến khi ấy Ta không có tuyên bố với thế giới này, cùng với các Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà- la-môn, chư Thiên và loài Người, rằng Ta đã chứng đạt được sự Giác Ngộ Tối Thượng. Nhưng ngay khi chân lý và trí tuệ về Bốn Sự Thật Cao Quý đã được thấu hiểu tường tận ở nơi Ta, thì khi ấy Ta có tuyên bố với thế giới này rằng Ta, đã chứng đạt được sự Giác Ngộ Tối Thượng.

Sự Thật do ta chứng đạt được, quả là sâu kín, khó thấy, khó nhận biết, tĩnh lặng, cao thượng, vượt ngoài tầm của lý luận suông, tinh tế, chỉ người trí mới hiểu thấu.

Còn thế gian này thì ưa ái dục, mê ái dục, ham thích ái dục. Thực sự, với những chúng sinh như vậy, sẽ thật khó để hiểu được Lý Duyên Khởi, sự Tuỳ Thuộc Phát Sinh của mọi hiện tượng; và cũng thật khó để những chúng sinh này thấy được sự ngưng lặng của tất cả các tạo tác, sự trừ bỏ của mọi mống tái sinh, sự đoạn diệt của ham muốn, sự buông xả, lặng tắt, Niết Bàn.

Vậy nhưng cũng có những chúng sinh, với đôi mắt nhiễm ít bụi trần, nếu được nghe Chánh Pháp, họ sẽ hiểu Sự Thật.

 

2. Lời dạy Đức Phật về sự thật cao quý về khổ 

Và này, thế nào là Sự Thật Cao Quý về Khổ?

Sinh là khổ; Già là khổ; Chết là khổ; Sầu, Đau, Bi, Ưu, Não là khổ; phải gần điều mình ghét là khổ; phải xa điều mình ưa là khổ; không được điều mình muốn là khổ; tóm lại: níu bám vào Năm Uẩn là khổ.

Và này, thế nào là Sinh? Sự sinh ra của các chúng sinh thuộc loài này hay loài khác, sự sản sinh, sự thụ thai và ra đời, sự xuất hiện các Uẩn, sự phát sinh của các giác quan: như vậy gọi là sinh.

Và này, thế nào là Già? Sự già cỗi của các chúng sinh thuộc loài này hay loài khác, sự già yếu, thoái hoá, rụng rời, phai bạc, héo mòn, sức sống cạn kiệt, giác quan huỷ hoại: như vậy gọi là già.

Và này, thế nào là Chết? Sự chết đi của các chúng sinh thuộc loài này hay loài khác, sự hoại diệt, tiêu biến, tử vong, hết kiếp sống, tan rã các Uẩn, vứt bỏ cơ thể: như vậy gọi là chết.

Và này, thế nào là Sầu? Với những ai phải chịu đựng những bất hạnh hoặc mất mát nào đó, sự sầu lo, sầu muộn; những buồn sầu, ưu sầu; mọi sầu não, sầu khổ của người ấy: như vậy gọi là sầu.

Và này, thế nào là Đau? Sự đau đớn và khó chịu về thân, cảm giác đau đớn và khó chịu do thân cảm nhận: như vậy gọi là đau.

Và này, thế nào là Bi? Với những ai phải chịu đựng những bất hạnh hoặc mất mát nào đó, sự bi ai, bi thảm; những than vãn, than khóc; mọi bi thán, bi thống của người ấy: như vậy gọi là bi.

Và này, thế nào là Ưu? Sự ưu phiền và khó chịu về tâm, cảm giác ưu phiền và khó chịu do tâm cảm nhận: như vậy gọi là ưu.

Và này, thế nào là Não? Với những ai phải chịu đựng những bất hạnh hoặc mất mát nào đó, sự não lòng, não nề; những thất vọng, tuyệt vọng; mọi áo não, khổ não của người ấy: như vậy gọi là não.

Và này, thế nào là khổ do phải gần điều mình ghét? Ở đây, một người phải gặp những hình ảnh, âm thanh, mùi hương, mùi vị, xúc chạm mà không khả ái, khó ưa, khó chịu. Hay người ấy phải có những tiếp xúc, quan hệ trao đổi, phải ở gần với những người mà muốn cho người ấy gặp điều xấu, muốn cho người ấy gặp điều bất hạnh, muốn cho người ấy không được yên ổn khỏi các ách nạn. Như vậy gọi là khổ do phải gần điều mình ghét.

Và này, thế nào là khổ do phải xa điều mình ưa? Ở đây, một người không được gặp những hình ảnh, âm thanh, mùi hương, mùi vị, xúc chạm mà khả ái, dễ ưa, dễ chịu. Hay người ấy không có những tiếp xúc, quan hệ trao đổi, không được ở bên cạnh những người mà muốn cho người ấy được điều tốt, muốn cho người ấy được điều hạnh phúc, muốn cho người ấy được yên ổn khỏi các ách nạn, những người như cha, mẹ, anh, chị, bạn bè, người thân, gia đình, họ hàng. Như vậy gọi là khổ do phải xa điều mình ưa.

Và này, thế nào là khổ do không được điều mình muốn? Ở đây, với những chúng sinh phải chịu sự chi phối của sinh- già-chết-sầu-đau-bi-ưu-não, khởi lên ước muốn: "Ôi, mong cho ta không phải chịu đựng sinh-già-chết-sầu-đau-bi-ưu- não, mong cho những điều ấy không xảy đến với ta". Những ước muốn đó đều không thành. Như vậy gọi là khổ  do không được điều mình muốn.

 

3. Năm uổn, hay năm nhóm sự tồn tại  

Và này, thế nào là Năm Uẩn? Chúng chính là cơ thể, cảm giác, ký ức, suy nghĩ, và ý thức.

Bất cứ cơ thể nào, dù là quá khứ, hiện tại hay tương lai,     bên trong hay bên ngoài, thô kệch hay tinh tế, bình thường hay tốt đẹp, ở xa hay ở gần, đều thuộc về Uẩn Cơ Thể; bất cứ cảm giác nào,…đều thuộc về Uẩn Cảm Giác; bất cứ ký ức nào,…đều thuộc về Uẩn Ký Ức; bất cứ suy nghĩ nào,… đều thuộc về Uẩn Suy Nghĩ; bất cứ ý thức nào,…đều thuộc về Uẩn Ý Thức

Năm Uẩn là một cách phân loại mà Đức Phật dùng để nhóm tất cả các hiện tượng tâm lý và vật lý của sự tồn tại, cụ thể hơn là những hiện tượng mà dưới con mắt người thường thì đó chính là "cái tôi" hay "bản ngã" của mình. Vậy nên sinh, già, chết, v.v… cũng đều thuộc vào năm nhóm này, khiến chúng bao quát hết tất cả các trải nghiệm của cuộc sống.

 

3.1 Uẩn cơ thể (Sắc uẩn)

Và này, thế nào Uẩn Cơ Thể? Đó chính là Bốn Yếu Tố cơ bản và cơ thể tạo thành từ bốn yếu tố đó.

Bốn yếu tố 

Và này, thế nào là Bốn Yếu Tố cơ bản (tứ đại)? Đó chính là các yếu tố rắn, lỏng, khí và nhiệt.

Bốn Yếu Tố (Giới hoặc Tứ Đại) còn được biết đến hơn cả là Đất, Nước, Gió, Lửa, được hiểu là những yếu tố cơ bản của vật chất. Thuật ngữ Pali cho chúng là Địa Đại, Thuỷ Đại, Phong Đại, Hoả Đại, và có thể được diễn dịch là phần rắn, phần lỏng, phần khí, và phần nhiệt. Cả bốn đều hiện diện trong bất kỳ đối tượng vật chất nào, dù chỉ khác nhau ở mức độ. Ví dụ như khi yếu tố Đất là chủ yếu, thì vật được gọi là 'chất rắn', v.v…

“Cơ thể tạo thành từ bốn yếu tố”, bao gồm, theo như Vi Diệu Pháp, 24 hiện tượng và tính chất: mắt, mũi, tai, lưỡi, thân, sắc, thanh, hương, vị, nam tính, nữ tính, sinh lực, cơ sở vật lý của tâm, cử chỉ, lời nói, khoảng trống (như lỗ mũi, lỗ tai, v.v…), thoái hoá, biến đổi và dinh dưỡng.

Xúc chạm thân thể không được đề cập đến trong 24 điều trên vì chúng được biểu hiện bởi các yếu tố rắn, lỏng, khí, nhiệt thông qua các cảm nhận về nóng, lạnh, đau, va chạm v.v…

1. Và này, thế nào là Yếu tố Rắn (Địa Đại)? Chính là những phần rắn ở bên trong hay bên ngoài. Và thế nào là phần rắn bên trong? Đó là những phần cơ thể của cá nhân, được nuôi dưỡng bởi Nghiệp, thuộc về sự cứng, sự rắn, như là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân, v.v... Như vậy được gọi là phần rắn bên trong. Và này, cho dù là phần rắn bên trong hay bên ngoài, chúng đều chỉ được coi là yếu tố rắn.

Và một người cần phải hiểu rõ sự thực với hiểu biết đúng đắn như sau: "Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải "cái tôi" của ta".

2. Và này, thế nào là Yếu tố Lỏng (Thuỷ Đại)? Chính là những phần lỏng ở bên trong hay bên ngoài. Và thế nào là phần lỏng bên trong? Đó là những phần cơ thể của cá nhân, được nuôi dưỡng bởi Nghiệp, thuộc về sự lỏng, sự nước, như là mật, dịch, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu, v.v... Như vậy được gọi là phần lỏng bên trong. Và này, cho dù là phần lỏng bên trong hay bên ngoài, chúng đều chỉ được coi là yếu tố lỏng.

Và một người cần phải hiểu rõ sự thực với hiểu biết đúng đắn như sau: "Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải "cái tôi" của ta".

3. Và này, thế nào là Yếu tố Khí (Phong Đại)? Chính là những phần khí ở bên trong hay bên ngoài. Và thế nào là phần khí bên trong? Đó là những phần cơ thể của cá nhân, được nuôi dưỡng bởi Nghiệp, thuộc về sự khí,  sự hơi, như là khí đi lên, khí đi xuống, khí trong ruột, khí trong bụng,  khí toả đến các cơ quan, hơi thở vào, hơi thở ra, v.v... Như vậy được gọi là phần khí bên trong. Và này, cho dù là phần khí bên trong hay bên ngoài, chúng đều chỉ được coi là yếu tố khí.

Và một người cần phải hiểu rõ sự thực với hiểu biết đúng đắn như sau: "Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải "cái tôi" của ta".

4. Và này, thế nào là Yếu tố Nhiệt (Hoả Đại)? Chính là những phần nhiệt ở bên trong hay bên ngoài. Và thế nào là phần nhiệt bên trong? Đó là những phần cơ thể của cá nhân, được nuôi dưỡng bởi Nghiệp, thuộc về sự nhiệt, sự nóng, như là những gì khiến cho cơ thể được hâm nóng, biến đổi, chuyển hoá, những gì khiến cho vật được ăn uống, nhai, nếm, khéo tiêu hoá, v.v... Như vậy được gọi là phần nhiệt bên trong. Và này, cho dù là phần nhiệt bên trong hay bên ngoài, chúng đều chỉ được coi là yếu tố nhiệt.

Và một người cần phải hiểu rõ sự thực với hiểu biết đúng đắn như sau: "Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải "cái tôi" của ta".

Cũng như “ngôi nhà”  là những kết hợp của gỗ, củi, bùn, đất. Cái gọi là “cơ thể” chẳng qua là sự kết hợp của xương, thịt, gân, da.

 

3.2 Uổn cảm giác (Thọ uẩn)

Có ba loại cảm giác này, đó là: dễ chịu, khó chịu, không-dễ- chịu-cũng-không-khó-chịu (trung tính).

 

3.3 Uổn ký ức (Tưởng uẩn)

Và này, thế nào là ký ức? Có sáu loại ký ức: ký ức về hình ảnh, về âm thanh, về mùi hương, về mùi vị, về xúc chạm, về ý niệm.

 

3.4 Uuổn suy nghĩ (Hành uẩn)

Và này, thế nào là suy nghĩ? Có sáu loại chủ ý: suy nghĩ về hình ảnh, về âm thanh, về mùi hương, về mùi vị, về xúc chạm, về ý niệm.

Uẩn Suy Nghĩ hay Uẩn Tạo Tác (Hành Uẩn) là một tập hợp rất nhiều những khía cạnh và chức năng của các hoạt động tinh thần. Suy nghĩ cùng với cảm giác và ký ức, tất cả đều hiện diện trong từng khoảnh khắc của ý thức. Trong Vi Diệu Pháp, có 50 loại suy nghĩ được phân biệt, 7 trong số đó là các yếu tố luôn hằng có mặt ở trong tâm. Số lượng và thành phần của các loại còn lại thay đổi tuỳ theo tính chất của loại ý thức tương ứng. Trong kinh Chánh  Tri Kiến, có ba đại diện của Uẩn Suy Nghĩ được nhắc tới, đó là: Chủ Ý, Tiếp Xúc Giác Quan, và Chú Ý. Lại trong những loại này, chủ ý chính là nhân tố chủ đạo trong việc "tạo tác"một tính  chất đặc trưng của Uấn Suy Nghĩbởi vậy mà nó được lấy  làm  ví dụ điển hình trong văn bản kể trên.

 

3.5 Uấn ý thức (Thức uẩn)

Và này, thế nào là ý thức? Có sáu loại ý thức: ý thức về hình ảnh, về âm thanh, về mùi hương, về mùi vị, về xúc chạm, về ý niệm.

 

SỰ TUỲ THUỘC PHÁT SINH CỦA Ý THỨC

Và giờ, dù con mắt không bị hư hại, nhưng hình ảnh bên ngoài không rơi vào tầm nhìn của nó, hay không có sự kết hợp tương ứng (giữa mắt và hình ảnh) xảy ra, thì khi đó không có sự phát sinh của loại ý thức tương ứng. Hoặc dù con mắt không bị hư hại, hình ảnh bên ngoài rơi vào tầm nhìn của nó, nhưng không có sự kết hợp tương ứng xảy ra, thì khi đó cũng không có sự phát sinh của loại ý thức tương ứng. Nhưng nếu con mắt không bị hư hại, hình ảnh bên ngoài rơi vào tầm nhìn của nó, và có sự kết hợp tương ứng xảy ra, thì như vậy, khi đó có sự phát sinh của loại ý thức tương ứng.

Và ta nói rằng, sự phát sinh của ý thức là tuỳ thuộc vào điều kiện. Nếu không có những điều kiện này, thì ý thức không phát sinh. Và dựa vào bất kỳ điều kiện nào mà sự phát sinh của ý thức phụ thuộc vào, thì theo đó mà nó sẽ được gọi tên như vậy.

- Ý thức mà sự phát sinh tuỳ thuộc vào mắt và hình ảnh, sẽ được gọi là Nhãn-Thức.

- Ý thức mà sự phát sinh tuỳ thuộc vào tai và âm thanh, sẽ được gọi là Nhĩ-Thức.

- Ý thức mà sự phát sinh tuỳ thuộc vào mũi và mùi hương, sẽ được gọi là Tỷ-Thức.

- Ý thức mà sự phát sinh tuỳ thuộc vào lưỡi và mùi vị, sẽ được gọi là Thiệt-Thức.

- Ý thức mà sự phát sinh tuỳ thuộc vào thân và xúc chạm, sẽ được gọi là Thân-Thức.

- Ý thức mà sự phát sinh tuỳ thuộc vào  tâm  và  ý  niệm,  sẽ được gọi là Tâm-Thức.

Bất cứ thứ gì là cơ thể thì đều thuộc vào Uẩn Cơ Thể. Bất  cứ thứ gì là cảm giác thì đều thuộc vào Uẩn Cảm Giác. Bất cứ thứ gì là ký ức thì đều thuộc vào Uẩn Ký ức. Bất cứ thứ gì là suy nghĩ thì đều thuộc vào Uẩn Suy Nghĩ. Bất cứ thứ  gì là ý thức thì đều thuộc vào Uẩn Ý Thức.

 

SỰ TÙY THUỘC CỦA Ý THỨC VÀO BỐN UẨN CÒN LẠI

Và này, nếu có ai nói như sau: "Tôi có thể giải thích sự đến và đi của ý thức, sự biến mất và xuất hiện của ý thức, sự lớn lên, tăng trưởng, và phát triển của ý thức, một cách độc lập với cơ thể, cảm giác, ký ức, và suy nghĩ". Này các Đệ tử, điều này là không thể.

 

BA ĐẶC TƯỚNG CỦA SỰ TỒN TẠI

Mọi tạo tác đều vô thường, mọi tạo tác  đều khổ, mọi pháp  đều vô ngã.

Cơ thể là vô thường, cảm giác là vô thường, ký ức là vô thường, suy nghĩ là vô thường, ý thức là vô thường. Những gì là vô thường đều phải chịu sự khổ. Và với những gì vô thường, phải chịu khổ sở, phải chịu biến đổi, một người không thể nói: "Cái này là của ta, cái này chính là ta, cái này là "cái tôi" của ta".

Vậy nên, bất cứ cơ thể, cảm giác, ký ức, suy nghĩ, hay ý thức nào, cho dù thuộc về quá khứ, hiện tại hay tương lai, bên trong hay bên ngoài, thô kệch hay tinh tế, bình thường hay tốt đẹp, ở xa hay ở gần, một người cần phải hiểu rõ sự thực với hiểu biết đúng đắn rằng: "Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải "cái tôi" của ta".

 

VÔ NGÃ

Sự tồn tại của cá nhân hay của thế giới, trên thực tế không gì khác ngoài một quá trình của các hiện tượng biến đổi liên tục mà đã được bao hàm trong năm uẩn. Quá trình này đã diễn ra từ vô thuỷ, trước khi một cá nhân ra đời, và sau khi người đó chết sẽ còn tiếp tục cho đến vô tận, chừng nào mà vẫn còn nguyên nhân cho nó. Như đã đề cập ở các văn bản trên, Năm Uẩndù tách riêng hay hợp lạicũng không thể nào cấu thành nên một thực thể "Cái Tôi" hay "Bản Ngã" nào đó, và đồng thời bên ngoài năm uẩn ta cũng không thể tìm được một cá thể, linh hồn hay thực chất nào để làm "chủ nhân" của năm uẩn này. Hay nói cách khác, năm uẩn là "vô ngã" (không có cái tôi). Theo quan điểm xem sự tồn tại là biến đổi và phụ thuộc, thì mọi niềm tin vào bất cứ hình thức nào của Cái Tôi phải được coi là một ảo tưởng.

Cũng giống như cái vật mà ta gán tên gọi "cỗ xe" thì không  thể nào tồn tại độc lập khỏi thân xe, bánh xe, yên xe, v.v... hay như từ ngữ "ngôi nhà" chẳng qua là một sự thuận tiện cho chúng ta sử dụng để chỉ rất nhiều những thứ được kết hợp với nhau trong một khoảng không gian nhất định, và không có một thực thể "ngôi nhà" riêng rẽ nào tồn  tại cả. Tương tự như  vậy, cái ta gọi là một "chúng sinh", hay một "cá nhân" hay  một "người", hay bằng đại từ "tôi", không gì ngoài một sự  biến đổi không ngừng của các hiện tượng tâm lývật lý, và bản thân nó không có một thực chất nào tồn tại phía sau.

Đây là một tóm tắt những lời dạy của Đức Phật về Vô Ngã, rằng tất cả sự tồn tại đều trống vắng một cái tôi hay thực ngã nào đó mà thường hằng. Đó là giáo lý nền tảng của Phật Giáo mà không được tìm thấy trong bất kỳ một hệ thống tôn giáo hay triết học nào khác. Vô Ngã là một hệ quả tất yếu của việc phân tích sâu sắc thực tại và năm uẩn. Để nắm vững được nó, không thể chỉ bằng lý luận hay tư duy trừu tượng, mà bời sự quan sát liên tục đến các trải nghiệm thực tế, và đó cũng là một điều kiện không thể thiếu cho những hiểu biết đúng đắn về Phật Pháp và cho sự chứng ngộ Con Đường.

Này các Đệ tử, giả như có một người mắt sáng trông thấy một đống bọt nước đang trôi trên sông Hằng, người ấy theo dõi, quan sát, và kiểm tra chúng cẩn thận. Và sau  khi đã theo dõi, quan sát, và kiểm tra chúng cẩn thận, đống bọt nước đó hiện ra trước người ấy như là trống rỗng, hư ảo, và không có thực chất. Cũng như vậy, vị Đệ tử theo dõi, quan sát và kiểm tra cẩn thận các hiện tượng về cơ thể, cảm giác, ký ức, suy nghĩ, và các trạng thái ý thức—cho dù chúng thuộc về quá khứ, hiện tại  hay  tương lai, xa hay gần—và sau khi đã theo dõi, quan sát, và kiểm tra chúng cẩn thận, các hiện tượng đó hiện ra trước vị ấy như là trống rỗng, trống không, và trống vắng một "cái tôi".

Những ai vui thích với cơ thể, với cảm giác, với ký ức,   với suy nghĩ, với ý thức, người ấy vui thích với khổ. Và những ai vui thích với khổ, họ sẽ không thể giải thoát khỏi khổ đau. Ta nói như vậy.

Cười gì, hân hoan gì, Khi đời mãi bị thiêu? Bị tối tăm bao trùm,

Sao không tìm ngọn đèn?

Hãy nhìn hình bóng đẹp, Chỗ chất chứa vết thương. Bệnh hoạn nhiều suy tư, Thật không gì trường cửu.

Cơ thể này suy già,

Ổ tật bệnh, mong manh. Nhóm bất tịnh, đổ vỡ, Chết chấm dứt mạng sống.

 

BA LỜI CẢNH BÁO

Này người kia, ngươi có bao giờ thấy giữa loài người, một người đàn bà hay đàn ông tám mươi tuổi, chín mươi tuổi, hay một trăm tuổi, già yếu, queo quắt, lưng còng, chống gậy, vừa đi vừa run rẩy, bệnh tật, sức sống cạn kiệt, răng rụng tóc bạc, hói đầu, nhăn nheo, đầu rung, tay chân da mồi khô đét? Và đã bao giờ ngươi nghĩ: “Ta rồi cũng phải già, ta không thể trốn thoát khỏi tuổi già?”

Này người kia, ngươi có bao giờ thấy giữa loài người, một người đàn bà hay đàn ông, bệnh tật đau ốm, nguy kịch, đứng nằm trong tiểu tiện, đại tiện của mình, phải cần người khác nâng dậy, phải cần người khác dìu xuống? Và đã bao giờ ngươi nghĩ: “Ta rồi cũng phải bệnh, ta không thể trốn thoát khỏi bệnh tật?”

Này người kia, ngươi có bao giờ thấy giữa loài người, một người đàn bà hay đàn ông, chết được một ngày, hay hai ngày, hay ba ngày, sưng phù lên, xanh xám lại và nát rữa ra? Và đã bao giờ ngươi nghĩ: “Ta rồi cũng phải chết, ta không thể trốn thoát khỏi cái chết?”

 

LUÂN HỒI

Không thể biết được là khởi đầu của vòng luân hồi này. Một điểm khởi đầu là không thể tìm được đối với các chúng sinh bị u mê chôn vùi, bị ham muốn trói buộc, lang thang phiêu dạt trong vòng sinh tử.

Luân hồihay vòng sinh tửlà danh từ tiếng Pali để chỉ biển đời mênh mông mãi dạt trôi vô tận, biểu tượng cho quá trình liên tục lặp đi lặp lại của sự sinh, già, bệnh, chết. Nói chính xác hơn: Luân Hồi là một chuỗi không ngừng của sự kết hợp năm uẩn, luôn luôn thay đổi theo từng khoảnh khắc, từng cái một nối tiếp nhau trải qua vô vàn kiếp sống. Trong vòng luân hồi này, một cuộc đời chỉ đóng góp một phần vô cùng nhỏ. Vậy nên để có thể lĩnh hội được Sự Thật Cao Quý đầu tiên, một người phải đưa mắt nhìn trọn vòng sinh tử, để thấy được bối cảnh đáng sợ của sự tái sinh, chứ không nên chỉ nhìn vào một kiếp sống, mà ở trong đó, dĩ nhiên có thể có ít sự đau khổ.

Danh từ "Khổ" trong Sự Thật Cao Quý đầu tiên,  không đơn thuần dùng để chỉ những khó chịu về mặt thể xác hay những đau đớn về mặt tinh thần, mà nó bao gồm mọi thứ là kết quả của khổ đau hay có khả năng dẫn tới đau khổ. Sự Thật về Khổ dạy ta rằng, do chi phối bởi Định luật Vô Thường, ngay cả những trạng thái hạnh phúc cao thượng cũng phải đi đến biến đổi và hoại diệt, và tất cả các sự tồn tại do đó đều bất toại nguyện, chúng không có ngoại lệ đều mang trong mình mầm mống của sự khổ đau.

Các người nghĩ thế nào, này các Đệ tử, cái gì là nhiều hơn? Dòng nước mắt đổ xuống, do đã quá lâu các người kêu gào than khóc—trong lúc phải lang thang phiêu dạt trong vòng sinh tử, phải hội ngộ với những gì không muốn, phải chia ly với những gì mình muốn—Cái này, hay là nước biển trong lòng bốn đại dương?

Đã quá lâu các người phải chịu đựng cái chết của người cha, đã quá lâu các người phải chịu đựng cái chết của người mẹ,... của người anh,... của người chị,... của con trai,... của con gái. Và trong khi phải chịu đựng những điều này, quả thực dòng nước mắt các người đổ xuống còn lớn hơn cả lượng nước biển trong lòng bốn đại dương.

Các người nghĩ thế nào, này các Đệ tử, cái gì là nhiều hơn? Dòng máu đổ xuống, do đã quá nhiều lần các người bị chặt đầu—trong lúc phải lang thang phiêu dạt trong vòng sinh tử—Cái này, hay là nước biển trong lòng bốn đại dương?

Đã quá lâu các người bị chặt đầu do sinh ra làm con bò, đã quá lâu các người bị chặt đầu do sinh ra làm con trâu,...làm con cừu,...làm con dê,...làm con hươu,...làm con gà,...làm con lợn.

Đã quá lâu các người bị chặt đầu do bị bắt khi đang làm    kẻ cướp làng mạc,... bị bắt khi đang làm kẻ cướp đường phố,...bị bắt khi đang gian dâm  với  vợ  người.  Và  trong khi phải chịu đựng những điều này, quả thực dòng máu các người đổ xuống còn lớn hơn cả lượng nước biển trong lòng bốn đại dương.

Vì sao? Bởi vì, này các Đệ tử, không thể biết được là khởi đầu của vòng luân hồi này. Một điểm khởi đầu là không thể tìm được đối với các chúng sinh bị u mê chôn vùi, bị ham muốn trói buộc, lang thang phiêu dạt trong vòng sinh tử.

Cũng vậy, đã quá lâu các người phải chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, với các nấm mồ ngày một chồng chất. Vì vậy là vừa đủ để các người nhàm chán, là vừa đủ để các người từ bỏ, là vừa đủ để các người giải thoát đối với tất cả các phụ thuộc.

Nguồn:  Lời của Đức Phật – (Biên soạn, phiên dịch, và giải thích bởi Nyanatiloka)