1. Pháp luật áp dụng đối với hợp đồng có yếu tố nước ngoài

Hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên vì vậy nguyên tắc tự do hợp đồng luôn được đề cao và tôn trọng, Vì vậy khoản 1 Điều 683 Bộ luật dân sự năm 2015 cho phép các bên trong hợp đồng được thỏa thuận chọn luật áp dụng đối với hợp đồng:

Các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều này. Trường hợp các bên không có thỏa thuận về pháp luật áp dụng thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó được áp dụng.

Về mặt câu chữ, điều luật này dùng từ “đối với hợp đồng” nên phải hiểu là pháp luật do các bên lựa chọn được áp dụng cho toàn bộ các thỏa thuận trong hợp đồng. Điều 769 BLDS trước đây cho phép các bên thỏa thuận chọn luật áp dụng đối với quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, về bản chất có thể hiểu quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng là tất cả những gì các bên đã cam kết với nhau và nó trở thành quyền và nghĩa vụ ràng buộc các bên, là luật đối với các bên, nên nói quyền và nghĩa vụ không chỉ là các điều khoản quy định quyền và nghĩa vụ đơn thuần. Tuy nhiên với cách dùng từ quyền và nghĩa vụ như trong BLDS cũ có thể sẽ bị bắt bẻ rằng điều luật đó chỉ cho phép các bên thỏa thuận chọn luật để điều chỉnh các cam kết về quyền và nghĩa vụ, còn các thỏa thuận khác, các điều khoản hợp đồng khác sẽ không được áp dụng pháp luật do các bên thỏa thuận. Sự bắt bẻ có thể không hoàn toàn hợp lý nhưng rõ ràng thay đổi cách dùng từ không quy định phạm vi điều chỉnh của điều luật là quyền và nghĩa vụ mà là cả hợp đồng như trong BLDS năm 2015 là kín kẽ và logic, phản ánh đúng bản chất của quan hệ.

Pháp luật áp dụng do các bên thỏa thuận lựa chọn sẽ không được áp dụng đối với các trường hợp quy định tại các khoản 4, 5, 6 điều luật 683 Bộ luật dân sự 2015.

2. Pháp luật của nước nào được coi là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng?

Nếu các bên không thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng hoặc không thỏa thuận được thì lúc này hệ thống pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng được áp dụng (Lex propria).

Để cụ thể hóa các trường hợp liên quan và để thống nhất cách thức áp dụng đổi với pháp luật của nước nơi có mối liên hệ gắn bó nhất, khoản 2 Điều 683 Bộ luật dân sự 2015 quy định các hệ thống pháp luật của nước được coi là gắn bó nhất. Cụ thể:

- Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa thì pháp luật được coi là gắn bó nhất với họp đồng là pháp luật của nước nơi cư trú của cá nhân bán hàng hoặc nơi thành lập của pháp nhân bán hàng.

- Đối với họp đồng dịch vụ thì pháp luật được coi là gắn bó nhất với hợp đồng là pháp luật của nước nơi cư trú của cá nhân cung cấp dịch vụ hoặc nơi thành lập của pháp nhân cung cấp dịch vụ.

- Đối với hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ pháp luật được coi là gắn bó nhất với hợp đồng là pháp luật của nước nơi cư trú của cá nhân nhận quyền hoặc nơi thành lập của pháp nhân nhận quyền. Mặc dù trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ không có xung đột pháp luật nhưng các vấn đề liên quan đến hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ lại hoàn toàn có thể xảy ra xung đột pháp luật, vì đây là các quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài. Trong quy định này BLDS năm 2015 xác định pháp luật áp dụng là pháp luật nơi cư trú của cá nhân nhận quyền hoặc nơi thành lập của pháp nhân nhận quyền. Pháp luật được lựa chọn được cho là phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam, vì hiện nay và trong cả tương lai có lẽ Việt Nam vẫn là nước nhận chuyển giao các đối tượng sở hữu trí tuệ nhiều hơn là nước chuyển giao, vì vậy đây là cơ sở để mở rộng phạm vi áp dụng pháp luật Việt Nam một cách chính đáng.

- Đối với hợp đồng lao động, pháp luật được coi là gắn bó nhất với hợp đồng là pháp luật của nước nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc. Nếu người lao động thường xuyên thực hiện công việc tại nhiều nước khác nhau hoặc không xác định được nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng lao động là pháp luật của nước nơi cư trú của cá nhân người sử dụng lao động hoặc pháp luật của nước nơi pháp nhân thành lập. Đây là quy định lần đầu tiên được ghi nhận trong văn bản pháp luật dân sự, điều đó thể hiện sự quan tâm của nhà nước tới các quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài. Xây dựng quy định này sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc chọn luật khi có tranh chấp về hợp đồng lao động xảy ra, đồng thời điều này cũng thể hiện rõ ràng các quan hệ lao động đặc biệt về hợp đồng lao động ngày càng phổ biến và đòi hỏi phải có quy định riêng cho phù hợp với đặc thù của quan hệ.

- Đối với hợp đồng tiêu dùng pháp luật được coi là gắn bó nhất với hợp đồng là pháp luật của nước nơi người tiêu dùng cư trú. Quy định này cũng là một quy định mới lần đầu tiên được ghi nhận trong BLDS năm 2015. Lựa chọn pháp luật nơi cư trú của người tiêu dùng là hệ thống pháp luật gắn bó nhất trước hểt để đảm bảo quyền lợi của người tiêu cùng, thứ hai là để tạo thuận lợi cho cơ quan giải quyết tranh chấp trong việc thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết, thứ ba để tăng trách nhiệm và ý thức tôn trọng người tiêu dùng của bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ.

3. Nếu hợp đồng có đối tượng là bất động sản thì áp dụng pháp luật của nước nào?

Riêng hợp đồng có đối tượng là bất động sản thì hệ thuộc luật áp dụng là hệ thuộc luật của nước nơi có bất động sản. Sở dĩ như vậy bởi bất động sản là một loại tài sản đặc biệt, luôn gắn liền với đất đai, mà đất đai lại là một phần thiêng liêng của lãnh thổ, không thể sinh sôi vì vậy quy chế pháp lý dành cho loại tài sản này ở hầu hết các nước đều có sự chặt chẽ hơn và phần lớn các nước đều quy định các vấn đề liên quan đến bất động sản đều phải tuân thủ pháp luật của nước nơi có bất động sản. Quy định này của Việt Nam không mới so với các quy định truyền thống trong lĩnh vực này của thế giới cũng như với truyền thống lập pháp của Việt Nam. Tuy nhiên cách tiếp cận rõ ràng, minh bạch và cụ thể của điều luật này lại là mới, trước đây trong quy định tương tự của Điều 766 BLDS trước đây quy định “hợp đồng liên quan đến bất động sản ở Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam”. Việc sử dụng cụm từ “hợp đồng liên quan đến bất động sản” thực sự rất chung chung và mơ hồ, thực tế để chứng minh thế nào là liên quan chắc chắn không phải điều dễ dàng. Nay BLDS năm 2015 quy định rõ hợp đồng có “đối tượng là bất động sản” vừa cụ thể, chính xác, vừa tránh gây tranh cãi. Cụ thể, đối với các hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản, họp đồng thuê bất động sản, hoặc hợp đồng sử dụng bất động sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là pháp luật của nước nơi có bất động sản, nghĩa là bất động sản đang tồn tại ở nước nào thì pháp luật nước đó sẽ được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ nêu trên. Quy định như vậy ngoài việc đảm bảo sự phù họp với thông lệ quốc tế, phù hợp với chính sách pháp luật chung của quốc gia, bảo vệ lợi ích của nhà nước và của các bên trong quan hệ mà còn đảm bảo việc thực thi các phán quyết của các cơ quan có thẩm quyền được thuận lợi, nhanh chóng.

4. Các bên có thể thỏa thuận thay đổi pháp luật áp dụng đối với hợp đồng không?

Theo khoản 6 Điều 683 Bộ luật dân sự 2015:

Các bên có thể thỏa thuận thay đổi pháp luật áp dụng đối với hợp đồng nhưng việc thay đổi đó không được ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba được hưởng trước khi thay đổi pháp luật áp dụng, trừ trường hợp người thứ ba đồng ý.

Việc các bên thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng là quyền của họ, nên việc họ muốn thay đổi hệ thống pháp luật đã lựa chọn sang một hệ thống pháp luật khác xét cho cùng cũng vẫn là sự thống nhất ý chí của các bên nên vẫn cần phải được tôn trọng. Nhưng lúc này ngoài quyền lợi của chính các bên trong hợp đồng còn có thể có quyền lợi của bên thứ ba bị ảnh hưởng do việc không áp dụng hệ thống pháp luật đã lựa chọn ban đầu. Trường hợp này pháp luật vẫn cho phép các bên được thay đổi pháp luật áp dụng nhưng phải đảm bảo không gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba, trừ trường hợp dù bị ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình nhưng người thứ ba vẫn đồng ý để các bên trong họp đồng thay đổi pháp luật áp dụng đối với họp đồng thì sự thay đổi đó là hợp pháp.

5. Hình thức của hợp đồng có yếu tố nước ngoài?

Đối với hình thức hợp đồng pháp luật điều chỉnh cũng chính là pháp luật đã được áp dụng để điều chỉnh chung của hợp đồng đó. Theo khoản 7 Điều 683 Bộ luật dân sự 2015:

Hình thức của hợp đồng được xác định theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó. Trường hợp hình thức của hợp đồng không phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó, nhưng phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng hoặc pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng đó được công nhận tại Việt Nam.

Ví dụ, các bên thỏa thuận pháp luật áp dụng thì khi hệ thống pháp luật đó được áp dụng để điều chỉnh quan hệ hợp đồng cũng sẽ điều chỉnh luôn cả hình thức hợp đồng. Nếu các bên không chọn luật áp dụng thì hệ thuộc luật có mối quan hệ gắn bó nhất cũng sẽ chính là hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ về cả nội dung lẫn hình thức hợp đồng.

Trường hợp hình thức của hợp đồng không phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó, nhưng phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng hoặc pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng đó được công nhận tại Việt Nam.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm & Biên tập).