Mỗi quốc gia trên thế giới đều có hệ thống pháp luật cho riêng mình các hệ thống pháp luật có thể khác nhau hoặc trái ngược nhau hoàn toàn Xung đột pháp luật là: khi hai hay nhiều hệ thống pháp luật đồng thời có thể áp dụng để điều chỉnh quan hệ pháp luật này hay quan hệ pháp luật khác. Như vậy có thể hiểu trong một trạng thái nhất định mà hai hay nhiều hệ thống pháp luật đều có thể điều chỉnh một quan hệ pháp luật nhất định.

1.Khái niệm quyền sở hữu trong tư pháp quốc tế ?

- Xung đột pháp luật là: Hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh. Xung đột pháp luật là một nhánh của tư pháp quốc tế điều chỉnh mọi vụ việc pháp lý có sự tham gia của yếu tố "nước ngoài", trong đó các khác biệt về kết quả sẽ xảy ra, phụ thuộc vào việc hệ thống luật pháp nào được áp dụng.

- Quyền sở hữu là các quyền gồm chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của Luật về việc các chủ thể nắm giữ, chi phối trực tiếp hay gián tiếp chủ thể có quyền đối với tài sản. Quyền sở hữu trong tư pháp quốc tế là quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài.Quyền sở hữu là tổng hợp các quyền năng của các chủ thể được pháp luật thừa nhận trong quá trình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các tài sản.

Trong tư pháp quốc tế thì quy định về các trường hợp về Quyền sở hữu trong tư pháp quốc tế Ví dụ như:

- Quyền sở hữu trí tuệ trong tư pháp quốc tế là Các quyền sở hữu  như quyền sở hữu tác giả và quyền sở hữu công nghiệp có yếu tố nước ngoài liên quan tới các tác phẩm văn học nghệ thuật và khoa học, việc trình diễn của các nghệ sĩ, các chương trình phát và truyền thanh, phát và truyền hình, các sáng chế thuộc mọi lĩnh vực sáng tạo của con người và  các phát minh khoa học,  các kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, các thương hiệu và chỉ dẫn thương mại, bảo vệ chống cạnh tranh không lành mạnh và mọi quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghệ, khoa học, văn học, nghệ thuật theo quy định của pháp luật.

2. Nguyên tắc xác định quyền sở hữu trong tư pháp quốc tế

– Quyền sở hữu trong tư  pháp quốc tế là quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài.

–    Quyền sở hữu là tổng hợp các quyền năng của các chủ thể được pháp luật thừa nhận trong quá trình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các tài sản.

–    Trong khoa học tư pháp quốc tế, quyền sở hữu của các chủ thể được đề cập đến là quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài. Yếu tố nước ngoài trong quan hệ sở hữu được thể hiện ở những điểm sau:

–    Chủ thể tham gia quan hệ sở hữu là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài, nhà nước nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài…Ví dụ: Một nước ngoài Việt Nam tham quan du lịch, mang theo tài sản cá nhân. Việc công nhận quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của người nước ngoài ở Việt Nam hay không sẽ dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật. Quan hệ sở hữu của người nước ngoài đối với tài sản tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam được gọi là quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài.

–    Khách thể của quan hệ sở hữu là tài sản tồn tại ở nước ngoài.

–    Sự kiện pháp lý làm phát sinh thay đổi chấm dứt quan hệ sở hữu xảy ra ngay ở nước ngoài. 

Ví dụ: Một công ty xuất nhập khẩu Việt Nam ký một hợp đồng mua bán ngoại thương với một pháp nhân nước ngoài về việc nhập khẩu linh kiện máy móc về Việt Nam. Hợp đồng này được ký trên lãnh thổ nước ngoài và đã phát sinh hiệu lực pháp lý, hàng hóa đang tồn tại trên lãnh thổ nước ta. Vậy trong trường hợp này, quyền sở hữu của công ty Việt Nam sẽ được xác định như thế nào sẽ dựa vào các quy phạm tư pháp quốc tế. Quan hệ sở hữu này cũng được gọi là quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài.

3. Nguyên nhân và  phương pháp giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ sở hữu của các nước trên thế giới.

Xung đột pháp luật chủ yếu do hai nguyên nhân:

Thứ nhất : nguyên nhân đầu tiên là nguyên nhân liên quan đến nội tại của các quan hệ tư pháp quốc tế,đây là các quan hệ có tính chất quốc tế nên khi nào xã hội quốc tế hoá khả năng cao xuất hiện xung đột pháp luật,trong một xã hội luôn vận động và phát triển,sự di chuyển nguồn lực dòng vốn,sự phát triển khoa học công nghệ,sự xuất hiện của các cuộc hôn nhân ,các loại hợp đồng...các quan hệ này luôn tiền ẩm xung đột pháp luật vì các quan hệ này liên quan đến pháp luật của nhiều quốc gia khác nhau.

Thứ hai: nguyên nhân khách quan xuất phát từ sự đa dạng ,phong phú của hệ thống pháp luật hiện nay bởi thực tế trên thế giới có bao nhiêu quốc gia thì có bấy nhiêu hệ thống pháp luật, điều này cũng dẫn đến việc hệ quả của việc áp dụng nhiều hệ thống pháp luật khác nhau để giải quyết quan hệ tư pháp quốc tế gây ra hậu quả pháp lý khác nhau.

Mặc dù tồn tại nhiều điểm khác biệt nhưng pháp luật đa số các nước trên thế giới đều thống nhất nguyên tắc chung nhằm giải quyết xung đột pháp luật về sở hữu là áp dụng pháp luật nơi có tài sản. Luật nơi có tài sản không những quy định nội dung của sở hữu mà còn ấn định cả điều kiện phát sinh,chấm dứt và chuyển dịch quyền sở hữu nội dung này được quy định trong luật của nhiều nước

Pháp luật của nước có tài sản giữ vai trò nhất định trong việc xác định quyền sở hữu đối với tài sản đang trên đường vận chuyển,tài sản quá cảnh qua nhiều quốc gia, việc xác định quyền sở hữu đối với tài sản trên đường vận chuyển là vấn đề phức tạp được nhiều nước quan tâm giải quyết.

4.giải quyết xung đột pháp luật về  sở hữu có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam

Nguyên tắc chung để giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu được đa số các quốc gia châu  u lục địa,các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh ,Mỹ, Việt Nam...áp dụng nguyên tắc áp dụng nơi luật có tài sản hoặc luật nơi có tài sản sở hữu

Trong số ít các nước như Áo,Tây Ba Nha,Argentina.. có tồn tại cách giải quyết xung đột về quyền sở hữu tư xa xưa áp dụng hệ thuộc pháp luật nơi có tài sản.

 Theo điểm 1 điều 883 bộ luật dân sự nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam : việc xác lập chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản được xác định theo pháp luật của nước có tài sản đó.

Tuy nhiên đến nay phạm trù động sản và bất động sản không phải được hiểu một cách thống nhất trong các hệ thống pháp luật trên thế giới là nguyên nhân phát sinh xung đột về tài sản định danh việc xác định là động sản hay bất động sản là tiền đề giải quyết xung đột thông thường cũng chỉ dựa vào đạo luật trong nước và điều ước quốc tế.

Việc áp dụng pháp luật của nước có tài sản giữ vai trò trọng yếu trong giải quyết.

Hệ thuộc pháp luật nơi có tài sản

Không được áp dụng điều chỉnh các quan hệ sở hữu phát sinh trong một số lĩnh vực như: quan hệ sở hữu đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ,quan hệ tài sản đối với pháp nhân nước ngoài khi pháp nhân đó bị giải thể ,các quan hệ tài sản liên quan đến các đối tượng của các đạo luật về quốc hữu hóa.

 

5. Phương pháp Giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu theo pháp luật Việt Nam.

Cũng như các quốc gia khác trên thế giới, xung đột pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay được giải quyết dựa trên hai phương pháp là phương pháp  phạm thực chất và phương pháp quy phạm xung đột.

      Quy phạm xung đột

      Xét dưới khía cạnh về xung đột pháp luật thì điều chỉnh quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài có nhiều điểm khác, không giống như điều chỉnh quan hệ sở hữu không có yếu tố nước ngoài. Như đã phân tích ở trên, đa số các nước hiện nay đều thống nhất áp dụng nguyên tắc chung để giải quyết quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài như là tài sản đó có là đối tượng của quyền sở hữu hay không, xác định các quyền tài sản, xác định sự phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu,…đó là việc áp dụng  pháp luật nơi có tài sản. Luật nơi có tài sản (Lex rei sitae) được hiểu là vật (tài sản) hiện đang tồn tại ở nước nào thì luật của nước đó áp dụng đối với tài sản đó.

      Bộ luật dân sự Việt Nam cũng dựa trên nguyên tắc chung này để giải quyết xung đột về quan hệ sở hữu tại sản, quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 678 bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015: “Việc xác lập,thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này”.

      Như vậy, không phụ thuộc vào đối tượng của quan hệ sở hữu là động sản hay bất động sản, quyền sở hữu và các quyền tài sản khác sẽ do luật nơi có tài sản điều chỉnh. Về mặt lý luận, Điều 678 bộ luật dân sự 2015 điều chỉnh quan hệ sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài bằng phương pháp xung đột, lấy hệ thuộc luật nơi có vật làm căn cứ phát sinh quyền sở hữu tài sản, cũng như nội dung quyền sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài.Trong trường hợp tài sản  đối tượng của quyền sở hữu có tại Việt Nam, thì việc xác định quyền sở hữu đối với tài sản đó phải tuân theo pháp luật Việt Nam, không phụ thuộc vào yếu tố quốc tịch, nơi cư trú của chủ sở hữu.

      Để giải quyết vấn đề xung đột pháp luật về quyền sở hữu đối với tài sản là bất động sản, pháp luật của hầu hết các quốc gia đều ghi nhận nguyên tắc áp dụng luật của nước nơi có tài sản. Tuy nhiên, vấn đề nảy sinh đó là nếu đối với cùng một tài sản mà quốc gia này cho là động sản nhưng quốc gia khác lại quy định là bất động sản thì sẽ giải quyết như thế nào. Hai khái niệm “động sản” và “bất động sản” chưa được hiểu một cách thống nhất trong hệ thống pháp luật hiện nay của thế giới. Từ đây phát sinh quy phạm xung đột pháp luật trong vấn đề định danh tài sản. Việc xác định tài sản là động sản hay bất động sản là tiền đề cho việc giải quyết xung đột về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài. Pháp luật của đa số các nước và các điều ước quốc tế thường ghi nhận luật nơi có tài sản là hệ thuộc để giải quyết xung đột về định danh tài sản. Việt Nam cũng không nằm ngoài số đó, Điều 677 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015 cũng quy định như sau: “Việc phân biệt tài sản là động sản hoặc bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tải sản.