John Selden (Anh) viết “Mare Clausum” năm 1635 đại diện cho xu hưởng mở rộng quyền lực của quốc gia ven biển ra hưởng biển. Luật biển trong thời gian này chủ yếu là các quy tắc, quy phạm mang tính tập quán.
1. Định nghĩa luật biển quốc tế
Quá trình pháp điển hoá Luật biển phát triển mạnh sau Đại chiến thế giới thứ hai, thông qua ba hội nghị lớn của Liên hợp quốc vào các năm 1958, 1960 và năm 1973 - 1982. Trong các hôi nghị đó, nhiều vấn đề pháp lý về biển đặt ra trong thực tiễn quốc tế đã dần dần được giải quyết và quan trọng hơn cả là những thành tựu về lập pháp quốc tế đã đạt được của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực luật biển tại Hội nghị lần thứ ba của Liên hợp quốc. Bằng việc thông qua Công ước 1982 của Liên hợp quốc về Luật biển (Công ước 1982) tại Môntêgobay (Jamaica), ngày 10 tháng 12 năm 1982, với 320 điều khoản, 17 phần và 9 phụ lục, Công ước thực sự là bản hiến pháp về biển của cộng đồng quốc tế, đề cập toàn diên tất cả các vấn đề thuộc pháp lý, kinh tế, khoa học kỹ thuật, hợp tác, giải quyết tranh chấp... Đêh nay, Công ước đã có 158 nước phê chuẩn và Hiệp định 1994 thay đổi nội dung phần XI của Công ước cũng đã có hiệu lực vào ngày 28 tháng 7 năm 1995 và trở thành bộ phận hữu cơ của Công ước.
Sự ra đời của các công ước quốc tế lớn nêu trên và các quy phạm tập quán hiện hành đã khẳng định sự tồn tại độc lập của Luật biển quốc tế trong hệ thống luật quốc tế. Luật biển quốc tế là tổng hợp các nguyên tắc và quy phạm luật quốc tế, được thiết lập bởi các quốc gia, trên cơ sở thoả thuận hoặc thông qua thực tiễn có tính tập quán nhằm điều chỉnh quy chế pháp lý các vùng biển và các hoạt động sử dụng, khai thác, bảo vệ môi trường biển cũng như quan hệ hợp tác của các quốc gia trong các lĩnh vực này.
2. Các nguyên tắc của Luật biển quốc tế
2.1 Nguyên tắc tự do biển cả
Nguyên tắc này có nội dung, biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù là những quốc gia có biển hay không có biển. Nguyên tắc tự do biển cả không cho phép bất cứ quốc gia nào có thể áp đặt một cách hợp pháp một bộ phận nào đó của biển cả thuộc chủ quyền của mình. Với ý nghĩa đó, trong biển cả, tất cả các quốc gia đều được hưởng các quyền tự do. Song, mỗi quốc gia, khi thực hiện các quyền tự do biển cả phải thừa nhận và tính đến lợi ích của việc thực hiện quyền tự do trên biển cả của các quốc gia khác. Các quyền này mang tính tập quán.
Theo quy định, các quyền tự do biển cả trong Luật biển quốc tế hiện đại bao gồm:
- Tự do hàng hải;
- Tự do đánh bắt hải sản;
- Tự do đặt các dây cáp và ống dẫn ngầm;
- Tự do hàng không.
- Tự do nghiên cứu khoa học biển;
- Tự do xây dựng các đảo nhân tạo và các thiết bị khác được pháp luật cho phép.
Trong số các quyền tự do nêu trên, hai quyền tự do sau xuất phát từ nhu cầu phát triển của khoa học kỹ thuật. Tự do biển cả là nguyên tắc không chỉ áp dụng riêng cho biển cả. Trong các vùng biển đặc thù, các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia, các quốc gia khác vẫn có những quyền tự do biển cả nhất định.
2.2 Nguyên tắc đất thống trị biển
Đất thống tri biển là sự thể hiện cụ thể của học thuyết Res nullius, cho phép quốc gia ven biển mở rộng chủ quyền quốc gia ra hướng biển. Việc mở rộng quyền lực quốc gia ra hướng biển được quyết định bởi các nhân tố chính trị và khoa học kỹ thuật nhưng không thể tách rời cơ sở pháp lý được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Điều 2 Công ước luật biển năm 1982 quy định, lãnh thổ là điều kiên tiên quyết để mở rộng chù quyền quốc gia ra vùng nước lãnh hải và các vùng khác như vùng nước quần đảo. Chính chủ quyền của quốc gia quần đảo ưên các đảo của mình là cơ sở cho công đồng quốc tế chấp nhân học thuyết quốc gia quần đảo và mở rộng chủ quyền đó ra vùng nước quần đảo, bất kể chiều sâu và khoảng cách xa bờ của chúng thế nào (Điều 49 Công ước 1982).
Nguyên tắc đất thống trị biển còn thể hiên trong phân định biển bằng yêu cầu không được sửa chữa lại tự nhiên, theo đó, mỗi quốc gia được quyền hưởng phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ của mình ra biển. Ngay cả khi một vùng đáy biển gần lãnh thổ của một quốc gia hơn là lãnh thổ của mọi quốc gia khác người ta cũng không thể coi rằng nó thuộc quốc gia này nếu nó không phải là phần mở rộng tự nhiên của lãnh thỏ đất liền của quốc gia đó ra biển.
Tuy nhiên, các quốc gia cũng không thể lạm dụng nguyên tắc đất thống tri biển để mở rộng mãi thẩm quyền của mình ra biển hoặc đơn phương yêu sách những vùng biển rông lớn hơn, khồng phù hợp với luật quốc tế.
2.3 Nguyên tắc di sản chung của loài người
Qua một số nghị quyết như Nghị quyết 2749 ngày 17 tháng 12 nám 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, khái niệm di sản chung của loài người đã chính thức hình thành. Khái niệm này xác định khối tài sản không thể phân chia, thuộc quyền sở hữu của cộng đồng quốc tế, thay mặt cho tất cả các quốc gia. Nó có lợi cho các quốc gia đang phát triển, tạo điều kiện cho các quốc gia này tham gia vào việc quản lý, sử dụng các nguồn tài nguyên của vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, nằm ngoài quyền tài phán quốc gia mà trước đó, chỉ có các quốc gia công nghiệp tự do thăm dò khai thác. Phần XI, Công ước luật biển 1982 về chế độ pháp lý cùa vùng và phương thức quản lý vùng và thoả thuận ngày 29 tháng 7 năm 1994 đã quy định rõ các nguyên tắc xác định chế độ pháp lý của vùng - di sản chung của loài người (xem phần Vùng).
2.4 Nguyên tắc công bằng
Sự ghi nhân nguyên tắc này trong Công ước luật biển năm 1982 thể hiên một số khía cạnh:
- Thừa nhận những quyền cùa các quốc gia không có biển hoặc bất lợi về mặt địa lý được sử dụng biển cả như các quốc gia có biển ở phạm vi mà Luật biển cho phép và nghĩa vụ không làm gì phương hại đến quyền sử dụng biển cả của các quốc gia khác.
- Không đặt biển cả dưới chủ quyền riêng biệt của bất kỳ quốc gia nào. Quy định như vậy nhằm bác bỏ mọi yêu sách về chủ quyền đối với biển cả cũng như đối với vùng - di sản chung cùa loài người.
- Vùng đáy biển (vùng) có chế độ pháp lý là di sản chung của loài người. Vùng để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù quốc gia có biển hay không có biển, để sử dụng vào những mục đích hoàn toàn hoà bình, không phân biệt đối xử. Mọi hoạt động trong vùng được tiến hành là vì lợi ích của toàn thể loài người, không phụ thuộc vào vị trí địa lý của các quốc gia, dù là quốc gia có biển hay không có biển.
- Trong phân định biển, áp dụng công bằng không có nghĩa là sửa chữa lại tự nhiên mà là đảm bảo cho mỗi quốc gia ven biển được hưởng một vùng biển đúng và công bằng, có tính đến các hoàn cảnh hữu quan. Nguyên tắc công bằng trong phân định đã được đề cập trong Phán quyết về thềm lục địa biển Bắc năm 1969 và hàng loạt các phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế. Nó cũng được thể hiện trong thực tiễn quốc tế, trong sự thắng thế của nhóm công bằng (nhóm 29) đối với nhóm cách đều (nhóm 22) trong Hội nghị lần thứ ba của Liên hợp quốc về Luật biển.
Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)