Kính thưa luật sư, xin luật sư cho biết nguyên tắc xét xử kịp thời, công khai, công bằng trong tố tụng hình sự được hiểu như thế nào? Rất mong nhận được phản hồi từ luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Tuấn Anh - Lạng Sơn

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Hiến pháp năm 2013;

- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

2. Nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai là gì?

>> Xem thêm:  Hoãn phiên tòa là gì ? Tìm hiểu về hoãn phiên tòa hình sự, dân sự

Xét xử kịp thời, công bằng, công khai là đòi hỏi khách quan của hoạt động tố tụng và trở thành nguyên tắc của tố tụng hình sự. Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) cũ năm 2003 chỉ ghi nhận nguyên tắc xét xử công khai (Điều 18) và ngoại lệ là những trường hợp cần phải xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai. BLTTHS năm 2015 có những sửa đổi, bổ sung đối với nguyên tắc xét xử công khai và tích hợp thêm hai nội dung mới (cũng ở dạng nguyên tắc) là xét xử kịp thời và xét xử công bằng.[1] Như vậy, có thể hiểu Điều 25 BLTTHS năm 2015 quy định ba nguyên tắc nhỏ, đó là nguyên tắc xét xử kịp thời, nguyên tắc xét xử công bằng và nguyên tắc xét xử công khai. Hai nguyên tắc mới (xét xử kịp thời và xét xử công bằng) nhằm triển khai đầy đủ tinh thần Hiến pháp năm 2013 (khoản 2 Điều 31), phù hợp với Tuyên ngôn nhân quyền 1948 (UDHR) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc (ICCPR) tại Điều 14 (1) (3). Xét xử kịp thời, xét xử công bằng và xét xử công khai vừa có tính độc lập vừa có mối quan hệ với nhau, đồng thời cũng có mối quan hệ với các nguyên tắc khác trong BLTTHS năm 2015.

3. Bình luận về nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai

3.1. Xét xử kịp thời

Xét xử kịp thời hay nói cách khác là xét xử nhanh chóng (expeditious hearing) là nguyên tắc có ý nghĩa quan trọng, góp phần bảo đảm quyền con người, định hướng về mặt lập pháp cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự (TTHS).

Điều 14 (3) ICCPR quy định: trong quá trình xét xử về một tội hình sự, mọi người đều có quyền được hưởng một cách đầy đủ và hoàn toàn bình đẳng những bảo đảm tối thiểu sau đây: “… được xét xử nếu không có lý do chính đáng để trì hoãn” (điểm c). Bình luận của Ủy ban nhân quyền của Liên hợp quốc (HRC) xem việc xét xử nhanh chóng, kịp thời là một khía cạnh quan trọng của xét xử công bằng. Việc trì hoãn trong tố tụng không thể được giải thích bằng tính phức tạp của vụ án hoặc hành vi của các bên làm mất đi giá trị thiêng liêng của nguyên tắc xét xử công bằng.

Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định “người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định”. Khác với Điều 14 (3)(c) của ICCPR, dấu hiệu thời hạn luật định cho hoạt động xét xử trong Hiến pháp và BLTTHS Việt Nam năm 2015 làm rõ hơn nội hàm khái niệm xét xử kịp thời. Việc vi phạm thời hạn đồng nghĩa với vi phạm nguyên tắc này trong BLTTHS năm 2015 được xây dựng trên tinh thần đề cao quyền con người được thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 và trên tinh thần của ICCPR mà Việt Nam là thành viên nhằm khắc phục tình trạng trì hoãn, kéo dài một cách vô lý thời hạn và thủ tục tố tụng đối với bị cáo. Thời gian qua, yêu cầu xét xử kịp thời chưa được quan tâm trong lý luận, trong quan điểm lập pháp cũng như thực tiễn tố tụng ở nước ta, bởi khó nhận ra sự vi phạm quyền con người trong việc trì hoãn xét xử bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác.

Nguyên tắc xét xử kịp thời đòi hỏi thời hạn tố tụng trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử bảo đảm cần và đủ cho việc giải quyết vụ án. Nội dung nguyên tắc vừa bảo đảm giải quyết nhanh chóng vụ án bằng Tòa án, đồng thời vẫn bảo đảm quyền của người tham gia tố tụng, đặc biệt là của bị cáo. Ở đây có sự cân bằng giữa khả năng, yêu cầu giải quyết vụ án của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (THTT) và quyền của người bị buộc tội cũng như của những người tham gia tố tụng khác có lợi ích trong vụ án. Xu hướng cải cách để đáp ứng tinh thần của nguyên tắc là thời hạn tố tụng phải rõ ràng và được rút ngắn tối đa để việc giải quyết vụ án được nhanh chóng. Mặt khác, nhà lập pháp cũng cần rà soát các quy định về thời hạn nhằm hạn chế việc gia hạn thời hạn tố tụng hoặc khả năng phải tiến hành tố tụng lại từ đầu làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Yêu cầu đối với thực tiễn áp dụng pháp luật, là các cơ quan có thẩm quyền THTT không được lạm dụng việc gia hạn hoặc kéo dài việc giải quyết vụ án một cách vô căn cứ.

Việc ghi nhận nguyên tắc xét xử kịp thời trong BLTTHS năm 2015 có ý nghĩa quan trọng. Yêu cầu về tính cần và đủ của thời hạn tố tụng cũng như yêu cầu tuân thủ chặt chẽ thời hạn tố tụng có ý nghĩa bảo đảm thực hiện nguyên tắc xét xử kịp thời trong tố tụng hình sự.

3.2. Xét xử công bằng

Trước khi có Hiến pháp năm 2013 và BLTTHS năm 2015, xét xử công bằng (faire hearing) chưa được bàn nhiều trong khoa học pháp lý nước ta, mặc dù hoạt động tố tụng nói chung và hoạt động xét xử nói riêng ở nước ta trong nhiều năm qua vẫn nỗ lực tiếp cận theo hướng công bằng trong xét xử. Theo Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948 thì mọi người đều được hưởng quyền bình đẳng, được xét xử công bằng và công khai bởi một tòa án độc lập và không thiên vị trong việc quyết định các quyền và nghĩa vụ cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ (Điều 10).

ICCPR nêu rõ hơn nội dung và những đòi hỏi của nguyên tắc “tất cả mọi người đều bình đẳng trước Tòa án và cơ quan tài phán. Bất kỳ người nào đều có quyền đòi hỏi việc xét xử công bằng và công khai do một tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội trong vụ án hình sự hoặc xác định quyền và nghĩa vụ của người đó trong tố tụng dân sự” (Điều 14 (1)).

Theo giải thích của HRC, sự công bằng của tố tụng đòi hỏi không có sự tồn tại của những ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp, áp lực hoặc đe dọa hoặc hướng dẫn từ bất cứ bên nào cho bất kỳ động cơ nào. HRC còn giải thích xét xử công bằng phải đảm bảo sự độc lập, vô tư của các loại tòa án (tòa án thường, tòa án đặc biệt, tòa án dân sự hay tòa án quân sự) có thẩm quyền được thành lập phù hợp với các quy định của pháp luật. Sự vô tư của tòa án thể hiện ở việc thẩm phán không được phép phán quyết mà bị ảnh hưởng bởi thiên vị và định kiến, cũng không hành xử theo những cách thức không phù hợp nhằm ủng hộ lợi ích cho một bên, gây thiệt hại cho bên khác. Tòa án cũng phải hiện diện trước sự giám sát hợp lý để được vô tư. Ngoài ra, đảm bảo xét xử công khai và xét xử kịp thời cũng là biểu hiện của xét xử công bằng.

>> Xem thêm:  Phân tích nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự ?

Quan điểm lập pháp của Việt Nam có tiếp thu một cách hợp lý của nguyên tắc xét xử công bằng. Tuy nhiên, nội dung nguyên tắc chưa được giải thích cụ thể. Hiến pháp năm 2013 quy định ngắn gọn: “người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai” (khoản 2 Điều 31). Triển khai Hiến pháp năm 2013 và tiếp thu giá trị tiến bộ trong các văn kiện pháp lý quốc tế về nhân quyền, BLTTHS năm 2015 cũng ghi nhận nguyên tắc xét xử công bằng như một phần nội dung của Điều 25. Có lẽ nội dung của nguyên tắc đã được bảo đảm từ hệ thống các nguyên tắc khác nên nhà làm luật không giải thích rõ nội dung của xét xử công bằng.

Vấn đề còn lại là ở góc độ khoa học cần bàn thêm nội dung nguyên tắc xét xử công bằng cũng như mối quan hệ của nguyên tắc này với các nguyên tắc khác. Có quan điểm cho rằng xét xử công bằng có nhiều nội dung: yêu cầu tuân thủ pháp luật trong hoạt động xét xử; yêu cầu về sự khách quan vô tư của tòa án; yêu cầu về bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo; yêu cầu bảo đảm tranh tụng; yêu cầu về suy đoán vô tội; quyền được tham gia phiên tòa và xét xử theo đúng thẩm quyền luật định và sớm nhất trong khoảng thời gian luật định…

Như vậy, xét xử công bằng là nguyên tắc mới trong BLTTHS năm 2015, thế nhưng nội dung của nó được thể hiện bởi nhiều nguyên tắc: bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự, bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật và trước tòa án, bảo đảm quyền bào chữa, bảo đảm tranh tụng trong xét xử, bảo đảm sự độc lập và vô tư của thẩm phán, hội thẩm…

3.3. Xét xử công khai

Xét xử công khai (public hearing) không phải là nguyên tắc mới trong luật tố tụng hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, cũng cần bàn thêm nội dung nguyên tắc theo tinh thần của pháp luật quốc tế về quyền con người và một số sửa đổi, bổ sung đáng chú ý tại Điều 25 BLTTHS năm 2015.

Như đã trình bày, xét xử kịp thời, công bằng và công khai là những yêu cầu không thể tách rời trong nguyên tắc xét xử của tòa án. HRC giải thích: “tất cả các phiên hình sự được thành lập theo quy định của pháp luật đều phải theo nguyên tắc hoạt động bằng lời nói và công khai. Tính công khai của phiên tòa đảm bảo xuyên suốt quá trình tố tụng và như vậy sẽ cung cấp sự bảo vệ quan trọng cho lợi ích cá nhân và xã hội”. Tòa án phải cung cấp thông tin liên quan đến thời gian, địa điểm của phiên xử một cách công khai và cung cấp những phương tiện phù hợp cho các bên có lợi ích và công chúng tham gia. Yêu cầu xét xử công khai không nhất thiết được áp dụng cho tất cả các phiên xử phúc thẩm bởi phiên xử này căn bản dựa trên các tư liệu viết hoặc các quyết định tiền xét xử được đưa ra bởi các Công tố viên và của các cơ quan công quyền khác.

Cũng theo bình luận của HRC, với Điều 14 của ICCPR cũng phải chấp nhận tòa án có quyền hạn chế toàn bộ hoặc một phần tính công khai vì lý do đạo đức, trật tự công cộng hoặc an ninh quốc gia trong một xã hội dân chủ hoặc khi lợi ích cá nhân của các bên đòi hỏi hoặc trong một mức độ thật cần thiết, theo ý kiến của tòa án, trong hoàn cảnh đặc biệt, sự công khai sẽ gây hại cho lợi ích của công lý. Ngay cả trong những vụ án mà tính công khai của phiên tòa bị hạn chế, bản án, bao gồm những tài liệu cần thiết, chứng cứ và những cơ sở pháp lý cũng phải được công khai, trừ khi để bảo đảm những lợi ích khác của người chưa thành niên đòi hỏi, tố tụng liên quan đến tranh chấp hôn nhân và giám hộ cho trẻ em.

Nguyên tắc xét xử công khai được thừa nhận trong Hiến pháp năm 2013 (khoản 2 Điều 31). Điều 25 BLTTHS năm 2015 hoàn thiện hơn nguyên tắc xét xử công khai trên cơ sở cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp mới và kế thừa nội dung nguyên tắc này trong BLTTHS cũ năm 2003 (Điều 18). Theo đó, xét xử công khai bảo đảm “mọi người đều có quyền tham dự phiên tòa”. Phù hợp với ICCPR (Điều 14), BLTTHS năm 2015 cũng quy định việc xét xử kín là một trường hợp ngoại lệ của việc thực hiện nguyên tắc xét xử công khai. Điều đó có nghĩa, nguyên tắc chung là xét xử công khai, trừ những trường hợp có lý do đặc biệt mà lợi ích chung và lợi ích cá nhân đòi hỏi mà BLTTHS cho phép không áp dụng nguyên tắc này, tức là xét xử kín (không công khai). Khi xét xử kín, chỉ có những người tham gia tố tụng mới được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa, theo dõi diễn biến phiên tòa. Những người khác không được tham dự phiên tòa cho đến khi tuyên án.

Có bốn trường hợp cần xét xử kín:

+ Cần giữ bí mật nhà nước, tức là nội dung vụ án có những tình tiết có liên quan đến bí mật nhà nước. Việc cần giữ bí mật nhà nước nên phải xét xử kín xuất phát từ lợi ích nhà nước, lợi ích chung. Vụ án thuộc trường hợp này thường là những vụ án xâm phạm an ninh quốc gia, các vụ án liên quan đến việc làm lộ bí mật nhà nước. Đây cũng là lý do mà HRC cho rằng có liên quan đến trật tự công hoặc an ninh quốc gia;

+ Cần giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc. Đây là trường hợp vụ án có những tình tiết ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. Ví dụ, những vụ án xâm phạm tình dục có tính chất loạn luân, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy… Việc xét xử kín những loại án này cũng nhằm bảo vệ lợi ích chung. Đây chính là lý do đạo đức mà HRC đã nêu ra khi áp dụng Điều 14 ICCPR;

>> Xem thêm:  Xử lý vật chứng là gì ? Quy định về xử lý vật chứng

+ Bảo vệ người dưới 18 tuổi (bị cáo, bị hại). Đây là trường hợp cần được xét xử kín mới được bổ sung trong Điều 25 của BLTTHS năm 2015. Việc bổ sung này thể hiện rõ quan điểm tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích của người dưới 18 tuổi trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và cũng phù hợp với xu hướng của pháp luật quốc tế cũng như pháp luật các nước trên thế giới;

+ Cần giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự. Đây là trường hợp vì lợi ích cá nhân, các đương sự (người bị hại, bị cáo, cũng có thể là nguyên đơn dân sự…) nhận thấy việc xét xử công khai có ảnh hưởng không tốt đến lợi ích, danh dự, nhân phẩm, cuộc sống bình thường của mình nên đã chủ động đề nghị xét xử kín và được Tòa án chấp nhận (ví dụ những vụ án xâm phạm tình dục (hiếp dâm), buôn bán phụ nữ, làm nhục người khác….).

Đối với ba trường hợp đầu tiên, Tòa án quyết định việc xét xử kín. Riêng trường hợp thứ tư, Tòa án quyết định việc có xét xử kín hay không trên cơ sở yêu cầu chính đáng của đương sự. Tuy nhiên, không phải đương sự có yêu cầu thì Tòa án quyết định xét xử kín mà Tòa án có quyền quyết định chấp nhận xét xử kín hay không trên cơ sở cân nhắc lợi ích chính đáng của họ. Tuy xét xử kín nhưng Tòa án phải tuyên án công khai. Theo BLTTHS cũ năm 2003 thì không có sự khác biệt nào về việc tuyên án công khai giữa xét xử công khai so với xét xử kín, vì thế gây ra sự băn khoăn cho người áp dụng pháp luật cũng như những tham gia tố tụng khác về tác dụng của xét xử kín, bởi toàn bộ các tình tiết của vụ án xét xử kín cũng được công khai khi tuyên án. Khắc phục vướng mắc trên, Điều 327 BLTTHS năm 2015 có quy định mới đáng chú ý về tuyên án công khai: “trường hợp xét xử kín thì chỉ đọc phần quyết định trong bản án”. Quy định mới này góp phần bảo đảm hiệu quả và mục đích xét xử kín đã được quy định thành nguyên tắc của TTHS tại Điều 25.

Như vậy để thực hiện nguyên tắc xét xử công khai, pháp luật TTHS phải quy định rõ các thủ tục bảo đảm cho hoạt động xét xử để mọi người có quyền và có điều kiện tham dự phiên tòa. Ngoài ra, điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị phải đủ để bảo đảm tổ chức một phiên tòa công khai. Việc xét xử kín cũng hết sức chặt chẽ và có đủ căn cứ để bảo vệ lợi ích chung và lợi ích cá nhân, tổ chức có liên quan trong phiên tòa hình sự.

Nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng và công khai trong BLTTHS năm 2015 đã được bổ sung, hoàn thiện hơn so với quy định tại Điều 18 BLTTHS cũ năm 2003. Đó là kết quả của quá trình xây dựng pháp luật có tiếp thu các giá trị quyền con người trong pháp luật quốc tế, triển khai tinh thần Hiến pháp năm 2013 trong lĩnh vực tư pháp hình sự.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập

>> Xem thêm:  Nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự là gì ?

Câu hỏi thường gặp về nguyên tắc xét xử công khai

Câu hỏi: Xét xử kín những tuyên án phải công khai có làm mất giá trị của việc xét xử kín không?

Trả lời:

Không. Điều 327 BLTTHS 2015 quy định cụ thể như sau: "Chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của Hội đồng xét xử đọc bản án. Trường hợp xét xử kín thì chỉ đọc phần quyết định trong bản án. Sau khi đọc xong có thể giải thích thêm về việc chấp hành bản án và quyền kháng cáo."

Câu hỏi: Pháp luật quy định được xét xử kín trong trường hợp nào?

Trả lời:

Trong những trường hợp dưới đây thì Tòa án có thể xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai.

+ Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước;

+ Cần giữ thuần phong, mỹ tục của dân tộc;

+ Bảo vệ người dưới 18 tuổi;

+ Để giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự. 

Câu hỏi: Nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai là sự kết hợp của những nguyên tắc nào?

Trả lời:

Trong nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai là sự kết hợp của ba thành tố trong một nguyên tắc. Để bảo đảm thực hiện đúng nguyên tắc này cần thực hiện đầy đủ nguyên tắc xét xử công khai, nguyên tắc xét xử kịp thời và nguyên tắc xét xử công bằng.