Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162

Mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn được hình thành vào khoảng thế kỷ thứ VI trước Công nguyên bởi Hoàng đế Justinian, sau này, được các luật gia Pháp, Đức hoàn thiện và phát triển. Mục tiêu tìm đến chân lý khách quan của vụ án, xác định sự thật tuyệt đối là nhiệm vụ tối quan trọng của tố tụng hình sự thẩm vấn. Điều này được thể hiện qua cách thức tổ chức hoạt động tố tụng, các cơ quan tiến hành tô' tụng, bao gồm cả Tòa án được giao trách nhiệm chứng minh tội phạm, đi tìm sự thật của vụ án. Thẩm vấn là phương pháp tố tụng chủ yếu được lựa chọn áp dụng trong tất cả các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án. Trong giai đoạn điều tra, Điều tra viên sử dụng mọi biện pháp do luật định để thu thập các chứng cứ, làm sáng tỏ vụ án. Khi vụ án được chuyển sang Viện kiểm sát/Viện công tố để đê' nghị truy tố, chủ thể này tiếp tục kiểm tra, bổ sung các chứng cứ trong hồ sơ vụ án làm căn cứ quyết định truy tố người phạm tội ra tòa hoặc đình chỉ vụ án. Nếu hồ sơ vụ án được chuyển sang Tòa án, Thẩm phán tiếp tục điều tra theo thẩm quyền của mình, nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mỏ phiên tòa. Phiên tòa trong tố tụng thẩm vấn thực chất là sự tiếp tục của một quá trình điều tra liên tục, chứ không phải là sự cạnh tranh giữa các bên đối trọng nhau trong vụ án và thời điểm mấu chốt là quá trình xét hỏi, thẩm tra tại phiên tòa. Thẩm phán chủ động đặt các câu hỏi nhằm kiểm tra, xác minh lại các chứng cứ đã thu thập được trong các giai đoạn tố tụng trưốc đó, làm căn cứ cho việc ra phán quyết bản án.

Trong mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn, Công tố viên được giao nhiệm vụ chỉ. đạo quá trình điều tra, có toàn bộ quyền hành trong giai đoạn điều tra, đưa ra các chỉ thị, hưổng dẫn đối với cảnh sát (Pháp, Đức, Italia...). Tuy nhiên, trên thực tế, hầu hết các hoạt động điều tra cụ thể đều do Cảnh sát tư pháp thực hiện, chỉ những trưòng hợp ngoại lệ hoặc đối vói những vụ án đặc biệt thì Công tố viên mới trực tiếp điều tra. Khi tiến hành điều tra, cảnh sát thiết lập mốì liên lạc rất sớm với Công tô' viên để nhận được các ý kiến tư vấn về chuyên môn cũng như các mệnh lệnh, chỉ thị từ phía Công tố viên. Có thể thấy, hầu hết các hoạt động điều tra cụ thể do Cảnh sát tư pháp đảm nhiệm, song trách nhiệm chính đốĩ vói hoạt động điều tra và việc đánh giá độ tin cậy của chứng cứ lại được giao cho Công tô' viên. Tòa án trong tô' tụng thẩm vấn được xem như cơ quan thực thi chính sách tư pháp hình sự, do đó, có sự hợp tác chặt chẽ vổi Cơ quan công tố. Điều này lý giải vai trò của Thẩm phán giám sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Trong những vụ án nghiêm trọng, Thẩm phán còn có quyền chỉ đạo việc điều tra, ra lệnh tạm giam bị can khi xét thấy cần thiết.

Luật sư có thể được tiếp cận với hồ sơ vụ án trong quá trình điều tra, có quyền có mặt khi hỏi cung bị can, đề xuất hướng điều tra có lợi cho bị can. Tại phiên tòa, vai trò của Luật sư về cơ bản bị hạn chê' trong việc nêu ý kiến với Tòa về vấn đề trách nhiệm hình sự và hình phạt, hoặc yêu cầu cho phép được đưa ra các câu hỏi bổ sung đốì vối bị cáo hay các nhân chứng. Phát biểu của họ có thể có ảnh hưỗng nhất định đến các Hội thẩm, nhưng tác động đến các Thẩm phán thì không nhiều. Bị can, bị cáo và luật sư có quyền đưa ra các tài liệu, đồ vật và trình bày những vấn đề liên quan đến vụ án, nhưng không có quyền thu thập chứng cứ. Chứng minh tội phạm là trách nhiệm riêng của các Cơ quan điều tra, Cơ quan công tố và Tòa án. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không có nghĩa vụ phải chứng minh là mình vô tội. Do quá đề cao vai trò của các cơ quan nhà nước trong quá trình đi tìm sự thật vụ án, bị can, bị cáo, người bào chữa của họ cũng như người bị hại không có vai trò tích cực trong mô hình tố tụng này. Vì vậy, quá trình giải quyết vụ án trong mô hình tố tụng thẩm vấn dễ có xu hướng định kiến, có khả năng khó bảo đảm tính dân chủ, công bằng. Giai đoạn điều tra được tiến hành một cách bí mật, người bị tình nghi phạm tội và người bào chữa của họ bị hạn chế tham gia vào giai đoạn điều tra.

1. Vai trò của Luật sư tại Cộng hòa Liên bang Đức

Kết quả khảo sát của Liên đoàn Luật sư Việt Nam tại Cộng hòa Liên bang Đức cho thấy, người bào chữa trong vụ án hình sự ở Đức bao gồm các Luật sư và giảng viên các khoa Luật của các trường đại học. Tất cả các thành phần tô” tụng như Thẩm phán, Công tố viên và Luật sư đều tốt nghiệp cử nhân luật, sau đó trải qua 2 kỳ đào tạo và thi tuyển như nhau, sau khi nhận được chứng chỉ tốt nghiệp kỳ thi thứ 2, lúc đó tùy theo nguyện vọng mà họ chọn nghề Thẩm phán, Công tố hay Luật sư. Có thể nói, vối quy trình đào tạo này, trình độ và phẩm chất của mỗi Thẩm phán, Công tố hay Luật sư gần như ngang bằng nhau, dành cho sự tôn trọng bình đẳng ngay từ điểm xuất phát nghề nghiệp của mỗi chủ thể.

Ở Đức, một người dân có quyền nhờ không quá ba Luật sư và một Luật sư chỉ được bảo vệ một khách hàng trong một vụ án. Điều này có sự khác biệt với Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam. Luật sư ở Đức có địa vị pháp lý hoàn toàn bình đẳng vối Thẩm phán, Công tô' viên, không chịu bất cứ áp lực nào, không chịu sự chỉ đạo của Nhà nước, hoạt động độc lập theo luật riêng của mình. Luật sư ỏ Đức có thể tham gia vào tố tụng hình sự theo hai kênh chính: (1) Do khách hàng tự tìm đến Luật sư và yêu cầu; (2) Nhà nước chỉ định Luật sư trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng ỏ mức từ 01 năm tù giam trỏ lên vă ỏ trong tình trạng bị hạn chế về tâm thần. Quyền của Luật sư rất rộng rãi, ngoài các quy định chung mà pháp luật Việt Nam cũng đã quy định, Luật sư có quyền tiếp xúc với khách hàng của mình ngay từ khỉ bị Cảnh sát thẩm vấn, được tiếp xúc riêng tư và cuộc trao đổi không bị nghe trộm. Có một quy định khá đặc biệt là ngay trong trường hợp cơ quan tố tụng đặt máy nghe trộm một người, nếu ngưòi đó đang nói chuyện với Luật sư thì ngay lập tức việc nghe trộm phải dừng lại không được nghe nữa. Các thư từ của khách hàng gửi từ trại giam ra cho Luật sư và của Luật sư gửi vào cho khách hàng đều được giữ bí mật...

Tham dự trực tiếp một phiên tòa tại Cộng hòa Liên bang Đức cho thấy, diễn biến phiên tòa gần giông như tố tụng hình sự Việt Nam, trong đó vai trò chính yếu thuộc về Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án. Thẩm phán tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia quá trình thẩm vấn, kiểm tra chứng cứ, thậm chí, còn bước ra khỏi chỗ ngồi để người bị hại mô tả hành động của bị cáo xâm hại thân thể của mình. Luật sư khoác chiếc áo choàng màu đen (khác với Thẩm phán và Công tố ỏ cổ áo bằng nhung đen), ngồi rất gần bị cáo và thường xuyên trao đổi nội dung trước khi bị cáo trả lời câu hỏi của Thẩm phán.

Luật sư vào làm việc với khách hàng của họ tại trại tạm giam chỉ cần xuất trình thẻ Luật sư mà không cần bất cứ giấy tờ nào khác. Các phòng làm việc sáng sủa, được bô" trí riêng biệt, không có phương tiện và người giám sát, theo dõi hoặc ghi âm vì luật ở Đức quy định bí mật giữa Luật sư và khách hàng được tôn trọng tuyệt đốì.

2. Vai trò của Luật sư tại Trung Quốc

Luật Luật sư của nưởc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thông qua ngày 28-10-2007 và có hiệu lực từ ngày 01- 6-2008. Đây là sự tiếp nôì quá trình hoàn thiện pháp luật về Luật sư ở Trung Quốc khi Luật Luật sư đầu tiên được ban hành vào năm 1996, sửa đổi, bổ sung vào năm 2001. Mục đích của việc ban hành Luật này nhằm cải thiện hệ thống Luật sư, chuẩn hóa các hành vi hành nghề, bảo vệ thi hành pháp luật và thực hiện các chức năng của Luật sư trong việc xây dựng hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa. Điều 2 Luật Luật sư quy định Luật sư có trách nhiệm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, duy trì thực thi đúng pháp luật, bảo đảm thực thi công bằng xã hội và công lý. Pháp luật đòi hỏi trong quá trình hành nghề, Luật sư phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp và kỷ luật hành nghề của Luật sư, dựa trên thực tế làm cơ sở và có pháp luật làm căn cứ tiêu chuẩn đánh giá; phải chấp nhận sự giám sát của Nhà nước, công chúng và khách hàng. Việc hành nghề của Luật sư được pháp luật bảo vệ, không một tổ chức, cá nhân nào có thể xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Luật sư.

Năm 2013, ở Trung Quốc có khoảng 240.000 Luật sư và đạt tỷ lệ 1,6 Luật sư/10.000 dân, vối mức tăng trưởng trung bình hằng năm là 9,1% (trong đó 26,6% là phụ nữ). Đây là một chỉ số quan trọng thể hiện sự phát triển của nghề luật sư ở Trung Quốc, chỉ có sáu khu vực cấp tỉnh có ít hơn một Luật sư trên 10.000 dân (là An Huy, Thanh Hải, Cam Túc, Quý Châu, Giang Tây và Tây Tạng). Trung Quốc có 19.361 công ty luật vối đà tăng trưỏng 6% mỗi năm. Hiệp hội Luật sư toàn Trung Quốc (ACLA) luôn coi trọng vai trò của ACLA trong việc duy trì các chuẩn mực và tiêu chuẩn hành nghề, quy tắc đạo đức và ứng xử của mỗi Luật sư là thành viên. ACLA ngày càng phát huy vai trò quan trọng trong việc quản lý hành nghề Luật sư, khuyến khích Luật sư tham gia hợp tác quốc tế với Luật sư các nưởc trên thế giới.

Bộ luật tố tụng hình sự Trung Quốc năm 2012 đã bãi bỏ toàn bộ các thủ tục mang tính bắt buộc chấp nhận Luật sư tham gia tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, cũng như minh bạch hóa các trường hợp hạn chế tham gia tô' tụng (chỉ trong trường hợp liên quan đến an ninh quốc gia, khủng bô' và tham nhũng đặc biệt) là một thành công lốn của giới Luật sư Trung Quốc. Một điểm mang tính đột phá khác của pháp luật tô' tụng hình sự Trung Quốc là Luật sư Trung Quốc được quyền gặp và trao đổi riêng tư vối bị can, bị cáo ngay từ giai đoạn điều tra mà không bị giám sát, ghi âm, đồng thời, được hỗ trợ quyết định thu thập chứng cứ khi Luật sư bị cản trở hoặc gây khó khăn...

Những bước tiến bộ, đề cao vị trí, vai trò của Luật sư trong Bộ luật tô' tụng hình sự Trung Quốc thông qua vào năm 2012, thể hiện qua các điều 14, 33, 37. Theo đó, Tòa án, Viện kiểm sát và cơ quan Công an Trung Quốc phải bảo đảm cho bị can, bị cáo và những người tham gia tô' tụng khác được hưởng quyền bào chữa và các quyền tô' tụng khác theo quy định của pháp luật. Kể từ khi bị Cơ quan điều tra hỏi cung lần đầu tiên hoặc kể từ ngày bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, bị can có quyền nhờ người bào chữa; trong thời gian điều tra, chỉ có thể nhờ Luật sư làm người bào chữa. Bị cáo có quyền nhờ người bào chữa vào bất kỳ thời điểm nào, Cơ quan điều tra kể từ lần đầu tiên hỏi cung bị can hoặc kể từ ngày đầu tiên áp dụng biện pháp ngăn chặn phải giải thích cho bị can về quyền được nhờ người bào chữa. Viện kiểm sát trong vòng ba ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án được chuyển đến để thẩm tra trước khi truy tố, phải thông báo cho bị can quyền nhờ người bào chữa. Bị can, bị cáo trong thời gian bị tạm giam nếu yêu cầu nhờ người bào chữa, Tòa án, Viện kiểm sát và cơ quan Công an cần phải kịp thời truyền đạt yêu cầu.

Bị can, bị cáo bị tạm giam, người giám hộ hoặc người thân có thể nhờ người bào chữa thay. Người bào chữa khi tiếp nhận lòi nhờ của bị can, bị cáo phải kịp thòi thông báo cơ quan giải quyết vụ án. Luật sư bào chữa có thể gặp mặt, trao đổi thông tin với bị can, bị cáo đang bị tạm giam. Luật sư bào chữa có đầy đủ giấy chứng nhận hành nghề, giấy giổi thiệu của Văn phòng Luật sư và hợp đồng ủy quyền hoặc công văn hỗ trợ tư pháp yêu cầu gặp mặt bị can, bị cáo đang bị tạm giam thì trại tạm giam cần phải kịp thòi bô' trí gặp mặt, chậm nhất không được quá 48 tiếng đồng hồ. Đối vối tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm khủng bô' hoặc tội phạm tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng, trong thời gian điều tra, Luật sư biện hộ gặp mặt bị can, bị cáo đang bị tạm giam phải có sự cho phép của Cơ quan điều tra. Đối với những loại tội phạm nêu trên, Cơ quan điều tra phải thông báo trước vối trại tạm giam.

Luật sư bào chữa gặp mặt bị can, bị cáo đang bị tạm giam có thể tìm hiểu nội dung vụ án, cung cấp tư vấn pháp luật; kể từ khi chuyển hồ sơ thẩm tra truy tố, có thể cùng bị can, bị cáo đôì chiếu các chứng cứ có liên quan. Khi Luật sư bào chữa gặp mặt bị can, bị cáo đang bị tạm giam sẽ không bị ghi âm

3. Vai trò của Luật sư trong tố tụng hình sự tại Hoa Kỳ

Mô hình tố tụng hình sự ở Hoa Kỳ được tổ chức dựa trên một số nguyên tắc cơ bản, xuất phát từ các quy định trong Hiến pháp Hoa Kỳ điều chỉnh việc tổ chức các chính quyền tại Hoa Kỳ, bao gồm chê độ Liên bang, học thuyết phân quyền và luận lý về độc lập xét xử. Rõ ràng, không phải tất cả các chính phủ hoặc các hệ thống tư pháp hình sự trên thế giới được tổ chức theo cùng một cách, cũng không phải đều dựa trên các khái niệm giống nhau và không phải đều có cùng một hình thức phân quyền. Mặc dù có sự khác biệt đáng kể giữa hệ thông tư pháp hình sự và tổ chức bộ máy nhà nưổc giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, có thể có một số khái niệm và cách tiếp cận có giá trị tham khảo để xem xét mô hình tố tụng hình sự của Việt Nam sau này.

Mỗi bang ở Hoa Kỳ có một hệ thông tố tụng hình sự riêng, đây là cơ chế thực thi luật hình sự của bang đó trưóc hệ thống Tòa án của bang này. Tòa án của mỗi bang có vị trí riêng biệt so vối hệ thống Tòa án Liên bang được đặt tại bang đó, song hệ thống Tòa án của tất cả các bang và các bên tham gia khác trong hệ thống tô' tụng hình sự của mỗi bang đều bị ràng buộc, không chỉ bởi Hiến pháp và pháp luật của bang đó mà còn bởi các quy định của Hiến pháp Hoa Kỳ.

Mô hình tố tụng hình sự Liên bang ở Hoa Kỳ có nhiều điểm khác so vối mô hình tố tụng hình sự của Việt Nam. Hoa Kỳ không có Bộ luật tố tụng hình sự nếu xét về múc độ toàn diện như Bộ luật tô' tụng hình sự của Việt Nam. ở Hoa Kỳ, các Quy tắc tô' tụng hình sự Liên bang bao gồm 61 quy tắc thủ tục, quy định về các thủ tục giải quyết một vụ án chủ yếu từ thời điểm nộp đơn Tòa án hạt Liên bang (Tòa án sơ thẩm) cho đến khi đóng vụ án tại Tòa án hạt. Quy trình tô' tụng tại Tòa tối cao Hoa Kỳ được điều chỉnh bởi các quy tắc của Tòa tối cao - bao gồm 48 quy tắc tố tụng. Một trong những điểm khác biệt lớn giữa mô hình tố tụng hình sự của Hoa Kỳ và Việt Nam là cách thức ban hành các quy tắc tô' tụng. Trong khi ở Việt Nam, Quốc hội thông qua Bộ luật tố tụng hình sự, thì ở Hoa Kỳ, tất cả các quy tắc nêu trên và hất kỳ nội dung sửa đổi nào sau này lại được Tòa tốĩ cao của Hoa Kỳ, chứ không phải cơ quan lập pháp của chính quyền Liên bang, ban hành. Quy trình ban hành các quy tắc này được ủy quyền bằng văn bản luật do Quốc hội ban hành, nhưng đó là một thủ tục tăng cường “độc lập tư pháp”.

Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra, không hẳn hai bên buộc tội và gỡ tội có vị thê bằng nhau. Bị cáo và Luật sư có thể không được thông báo rằng, một hoạt động điều tra hình sự đang được tiến hành cho đến khi bị cáo bị bắt giữ hoặc bị cáo buộc hình sự. Bị can thường không được thông báo về bất kỳ các quy trình thủ tục điều tra nào mà Điều tra viên đang tiến hành. Điều này cũng đúng đối với quy trình tố tụng bí mật do Công tô' viên tiến hành trong khuôn khổ cuộc điều tra của Đại bồi thẩm đoàn. Sau khi hồ sơ buộc tội hình sự được nộp ra tòa, các Công tô' viên và Luật sư bào chữa vẫn không phải là các bên bình đẳng trong giai đoạn trưổc khi xét xử vụ án. Mặc dù họ dường như có các quyền tô' tụng giống nhau, trong thực tế, Luật sư bào chữa không có quyền hợp pháp để kiểm tra tất cả các thông tin trong hồ sơ vụ án của Công tô' viên hoặc Điều tra viên; Công tô' viên cũng không có quyền xem xét hồ sơ của Luật sư bào chữa và Luật sư bào chữa thường có ít thông tin về vụ việc hơn là các Công tô' viên.

Người bào chữa chỉ có quyền hạn chế để “phát hiện”, có nghĩa là, để thu thập và rà soát các loại thông tin được liệt kê trong Quy tắc 16, Quy tắc tố tụng hình sự Liên bang. Quan trọng nhất là, trong giai đoạn trưốc khi xét xử, Luật sư bào chữa không có quyền xem xét “lời khai của người sẽ được triệu tập là nhân chứng trong tương lai”, có nghĩa là, các nhân chứng mà có thể quyết định mời họ ra làm chứng tại Tòa. Các Luật sư bào chữa chỉ có quyền xem xét các lời khai trưốc khi xét xử của các nhân chứng khi những người này đã bắt đầu ra làm chứng tại Tòa. Khi có yêu cầu, Thẩm phán sẽ cho phiên tòa tạm nghỉ một thời gian ngắn để các

Luật sư bào chữa có cơ hội xem xét các lời khai đó trưốc khi tiến hành phiên xét xử. Hơn nữa, trước phiên tòa, Luật sư bào chữa không có quyền hợp pháp để phỏng vấn bất cứ nhân chứng nào. Mọi nhân chứng đều có quyền từ chối nói chuyện vối Luật sư bào chữa. Do đó, Luật sư bào chữa không có quyền hợp pháp để xác định trước khi xét xử xem nhân chứng của các Công tố viên sẽ làm chứng những gì tại Tòa.

Tại phiên tòa, Công tố viên và Luật sư bào chữa bình đẳng hơn về vị trí tố tụng, chủ yếu là nhờ quyền đối kháng và kiểm tra chéo của bị can đôì vổi các nhân chứng của Công tố viên đứng ra chốhg lại bị can. Hơn nữa, trong quá trình xét xử Luật sư bào chữa có thể sẽ thu thập được các lời khai trước đây của nhân chứng và có thể sử dụng chúng để chống lại “độ tin cậy” của các nhân chứng đó trước Bồi thẩm đoàn. Ngoài ra, do hạn chế của quyền phát hiện mà các Công tố viên có theo Quy tắc 16 (b), các Công tố viên không thể biết tất cả hoặc bất kỳ các chi tiết quan trọng nào trong nội dung bào chữa của bị can. Vì thế, Công tố viên sẽ không thể chuẩn bị đầy đủ để đáp lại các nội dung bào chữa của bị can, đặc biệt là bởi Công tô' viên sẽ không thể biết trước được liệu bị can có trực tiếp ra làm chứng tại phiên tòa hay không.

Vào năm 2012, ở Hoa Kỳ, có khoảng trên 1,2 triệu Luật sư trên tổng số dân khoảng 312 triệu, với tỷ lệ khoảng 01 Luật sư/300 người dân, trong đó thành viên của Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ (ABA) khoảng 400.000 Luật sư. Rất khó ước lượng số lượng Luật sư hành nghề trong lĩnh vực luật hình sự ở Hoa Kỳ, bởi không có cơ quan đăng ký cập nhật riêng cho các Luật sư này. Mặc dù mỗi Luật sư hành nghề phải là thành viên của một trong 50 đoàn luật sư của tiểu bang, trong đó, một số Luật sư là thành viên của nhiều đoàn luật sư tiểu bang cùng một lúc, nhưng thực tế, không có đoàn luật sư nào yêu cầu Luật sư phải thông báo cho đoàn về việc mình có hành nghề luật hình sự hay không. Tuy nhiên, trong sô' các thành viên của ABA, có khoảng 19.000 người đã gia nhập bộ phận tư pháp hình sự, theo đó, bày tỏ mối quan tâm về luật hình sự (bao gồm cả các Công tố viên và Luật sư bào chữa). Năm 2012 ỗ Mỹ, có khoảng 1.380 trợ tá bào chữa viên Nhà nước Liên bang và khoảng 10.000 .Luật sư tư nhân được chỉ định - là những người được các Tòa án Liên bang trả lương theo quy định của Luật tư pháp hình sự nhằm đại diện cho các bị can có hoàn cảnh khó khăn tại các Tòa án Liên bang. Ngoài ra, cần phải tính đến số lượng khoảng 31.000 Luật sư ở tiểu bang và khu vực so vối 6.000 Luật sư ỏ Liên bang làm việc trong các văn phòng bào chữa nhà nước.

ở Hoa Kỳ, các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của Liên bang không nhiều, trong đó chủ yếu là các tội phạm nhằm chống lại, hoặc gây thiệt hại đến tài sản của các cơ quan Chính phủ cấp Liên bang, xâm phạm đến hoạt động thương mại giữa các bang; tội phạm ma túy, liên quan đến nhập cư, các hành vi lừa đảo, tham nhũng, cưỡng bức tình dục... Theo quy định tại Tu chính án thứ 6 của Hiến pháp Hoa Kỳ, bất kỳ người nào bị truy tố đều có quyền tiếp cận vối Luật sư để thực hiện việc bào chữa cho mình, nếu không có khả năng thuê Luật sư thì Nhà nước phải trả chi phí thuê Luật sư cho họ. Khi một bị cáo bị truy tô ra trước Tòa, họ phải được biết các chứng cứ buộc tội mình, từ đó, quyết định thỏa thuận thừa nhận phạm tội hoặc phản bác. Để có thể kết tội một người, phải có sự đồng thuận tuyệt đôi của các thành viên Bồi thẩm đoàn. Trong trường hợp này, nhiệm vụ của Thẩm phán là căn cứ vào kết quả biểu quyết có tội của Bồi thẩm đoàn, quy định của Liên bang về hệ thống áp dụng hình phạt, nhân thân, tiền án, tiền sự của bị cáo để đưa ra mức án cụ thể cho mỗi bị cáo.

Năm 2005, Tòa án tối cao Liên bang đã đưa ra một phán quyết cho rằng, các quy định hưống dẫn về áp dụng hình phạt nói trên là không đúng vì nó hạn chế quyền xem xét của Thẩm phán. Thẩm quyền của Thẩm phán rất rộng, từ việc xem xét quyết định mức hình phạt hạn chê quyền tự do cá nhân cho đến các hình phạt tiền hoặc biện pháp tài chính nhằm khắc phục hậu quả vụ án. Nếu không thỏa mãn với phán quyết của Tòa thượng thẩm, bị cáo có thể kháng cáo lên Tòa cấp trên để yêu cầu xem xét lại các quyết định nói trên. Trong mô hình tô” tụng tranh tụng, Cơ quan điều tra chịu sự chỉ đạo, hưóng dẫn của Viện công tố, Thẩm phán đóng vai trò trọng tài khách quan, điều hành phiên tòa và giải thích các điều luật, tạo điều kiện cho các bên buộc tội và gỡ tội có cơ hội ngang nhau trong việc đưa ra chứng cứ và lập luận, đưa ra mức hình phạt sau khi Bồi thẩm đoàn quyết định là có tội.

Có thể nói, ở Hoa Kỳ, sau khi một người bị bắt hoặc bị Cảnh sát thẩm vấn tại nơi giam giữ, người đó có quyền được có Luật sư riêng hoặc được Tòa chỉ định riêng một Luật sư bào chữa cho mình. Nếu người đó không đủ khả năng chi trả, họ có quyển tham vấn vối Luật sư trưóc khi Điều tra viên tiến hành hỏi cung. Tuy nhiên, việc thẩm vấn của Điều tra viên đốì với cá nhân này có thể được xúc tiến trừ phi cá nhân đó bày tỏ yêu cầu được trao đổi với Luật sư. Mặc dù trong lần đầu trình diện tại Tòa, bị can được thông báo về quyền được thuê Luật sư đại diện, song đây không phải là yêu cầu bắt buộc. Bị can có thể bỏ qua quyền này và tự bào chữa cho mình mà không cần sự hỗ trợ của Luật sư. Trong hầu hết các vụ án được xử ở Tòa Liên bang, nhất là những tội đại hình, việc bị can muốn tự bào chữa cho mình là hiện tượng hiếm khi gặp. Trong những vụ án rất nghiêm trọng, Tòa án đôi khi sẽ chỉ định một Luật sư luôn có mặt vởi tư cách là cố vấn để bị can tự bào chữa và có thể tham vấn với Luật sư này bất cứ lúc nào trong quá trình tô tụng. Ngoài ra, Tòa án sẽ không cho phép bị can tự bào chữa cho mình nếu Tòa cảm thấy người này không đủ năng lực hầu tòa.

Nếu Tòa án chỉ định Luật sư bào chữa, các Tòa án Liên bang phải trả phí cho các Luật sư này ỏ mức 125USD/giờ, trong đó, mức phí tối đa là 9.700USD cho các tội đại hình, trừ phi Tòa phúc thẩm phê duyệt một mức cao hơn cho các vụ án phức tạp. Mức phí trả cho các Luật sư được chỉ định ở Tòa tiểu bang thường ít hơn nhiều, nhưng tỷ lệ phí của các tiểu bang rất khác nhau. Trong giai đoạn điều tra, do Cơ quan điều tra hay Đại bồi thẩm đoàn tiến hành, Luật sư bào chữa nhìn chung không có quyền tham gia quá trình điều tra. Đôì với hai hình thức điều tra này, mỗi cá nhân đều có thể có một Luật sư sẵn sàng cung cấp các ý kiến pháp lý (Luật sư trực ban). Tuy nhiên, khi một nhân chứng khai báo trưốc Đại bồi thẩm đoàn, vị Luật sư này không được có mặt cùng với nhân chứng trong phòng của Đại bồi thẩm đoàn và phải đợi ở ngoài. Nếu nhân chứng muôn tham vấn vói Luật sư của mình, người đó phải rời khỏi phòng của Đại bồi thẩm đoàn để gặp Luật sư của mình ở bên ngoài. Trong thòi gian tiến hành một số cuộc điều tra do Đại bồi thẩm đoàn tiến hành, Luật sư bào chữa có thể tiến hành điều tra song song nếu khách hàng có đủ tiền trả, V.V..

Sau khi cáo buộc đã được nộp ra Tòa, sự tham gia của Luật sư bào chữa là bắt buộc trong mọi giai đoạn của quá trình tố tụng tại Tòa và Luật sư phải tham gia mọi phiên điều trần tại Tòa, trừ phi bị can thực hiện quyền tự bào chữa. Năm 1984, trong vụ án “New York” kiện “Quarles”, Tòa án đã thu hẹp lại một phần ngoại lệ “an toàn chúng'’ của Quy tắc Miranda. Một cảnh sát khi bắt người, mà không tuyên bôtrưốc lời cảnh báo “Miranda”, có thể yêu cầu người đó khai báo vũ khí ở đâu nếu sĩ quan đó tin chắc rằng, người này được trang bị vũ khí. Tòa án kết luận rằng, bất cứ những gì mà người đó nói có thể sẽ được sử dụng để chông lại người đó tại phiên tòa bởi “sự cần thiết phải trả lời các câu hỏi trong những tình huông đe dọa sự an toàn chung, sẽ vượt lên trên tính cần thiết của quy tắc dự phòng bảo vệ cho đặc quyền chông lại việc bị ép nhận tội trong Tu chính án thứ 5”.

4. Vai trò của Luật sư trong tô'tụng hình sự tại Canada

Tuy quy mô và cơ cấu hoạt động của Đoàn Luật sư Canada (CBA) nhỏ hơn Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ, nhưng dưối góc nhìn nghề nghiệp, CBA đã trỏ thành tiếng nói đại diện cho toàn thể thành viên, trong nhận thức và sự tôn trọng của công chúng dành cho nghề luật và pháp luật. Không chỉ là một tổ chức tự nguyện phát triển nghê' nghiệp của tất cả thành viên, CBA có một vị trí quan trọng trong việc thúc đẩy công lý và hỗ trợ cải cách pháp luật hiệu quả của Canada, sự bình đẳng trong nghề luật và nỗ lực xóa bỏ mọi phân biệt đối xử. Đó cũng là tô chức đi đầu trong cam kết tăng cường lợỉ ích thương mại và lợi ích nghề nghiệp của các thành viên hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau trong khu vực công, khu vực tư, bảo vệ sự độc lập của hệ thống tư pháp cũng như của CBA.

Tại Canada, CBA đóng vai trò quan trọng trong quá trình hoàn thiện pháp luật và quản trị tư pháp, thúc đẩy sự tiếp cận của người dân đến với hệ thống tư pháp và sự công bằng trong nghề luật, từ đó, cải thiện và trau dồi kiến thức, kỹ năng, các chuẩn mực đạo đức và phúc lợi cho thành viên hoạt động nghề luật. Đó còn là việc cải thiện và cung cấp các chương trình và dịch vụ để góp phần tạo sự tiến bộ về kiến thức và đạo đức, xây dựng văn hóa nghề nghiệp, cũng như sự tương tác giao tiếp giữa các thành viên.

Năm 2012, chi nhánh “British Columbia” (BC) của CBA có khoảng 6.700 thành viên gia nhập một cách tự nguyện, trong đó bao gồm không chỉ các Luật sư, mà còn các Thẩm phán, Công tố viên, sinh viên luật, với 46 thành viên trong Hội đồng được cử và bầu ra, hoạt động vối 76 tiểu ban về nghề nghiệp và chuyên môn, một năm nhóm họp 4 lần. Ban điều hành của CBA/BC có 10 người, họp hằng tháng, nhấn mạnh đến những giá trị và tiêu chuẩn nghề nghiệp cao nhất thông qua cam kết, tin tưởng vào kỷ cương pháp luật, thúc đẩy sự công bằng, hoàn thiện pháp luật và khả năng tiếp cận đến công lý. CBA đóng vai trò củng cố và kiên trì để xây dựng kỷ luật, coi tính liêm chính trong chính sách và hoạt động là giá trị cao nhất. Thông qua việc xây dựng các tiêu chuẩn và phát triển văn hóa nghề nghiệp, CBA quan tâm đến sự tôn trọng và cân bằng giữa cuộc sống và hoạt động nghề nghiệp luật sư, bảo vệ các lợi ích cá nhân, để trỏ thành đồng minh và trợ thủ thiết yếu của mọi thành viên trong CBA...

ớ Canada, mỗi bị cáo đều có quyền có Luật sư. Quyền này là quyền cơ bản và tồn tại trong tất cả các giai đoạn của quá trình xét xử một vụ án hình sự. Ví dụ, khi một người bị tình nghi bị bắt hoặc bị giam giữ, cảnh sát phải thông báo cho họ về quyền liên hệ với Luật sư, thực hiện các bưốc để họ được liên hệ vối Luật sư bào chữa và phải dừng lại việc thu thập chứng cứ từ người bị tình nghi này cho đêh khi họ liên lạc được với một Luật sư. Luật sư có thể tự do tư vấn một cách riêng tư cho khách hàng mà không bị can thiệp bỏi cơ quan địa phương. Nếu một người không có đủ khả năng để thuê Luật sư, cơ quan hỗ trợ pháp lý của địa phương có thể trả phí cho Luật sư thay cho cá nhân đó. Mỗi địa phương có nhiều cách khác nhau để cung cấp dịch vụ hỗ trợ pháp lý và những yêu cầu khác nhau để có thể nhận được sự hỗ trợ đó.

Theo pháp luật tô'tụng Canada, khi một người thuê Luật sư và được quyền tiếp cận chứng cứ từ cơ quan tư pháp địa phương, Luật sư của họ sẽ gặp bên khởi tô' để thảo luận về vụ án. Đó là những vấn đề có thể phát sinh, thời gian xét xử vụ án và nếu lời bào chữa đã xong, chứng cứ mà bên khởi tô' có thể sử dụng và lời buộc tội mà bên khởi tô' sẽ chấp nhận.

Những thảo luận này là một phần quan trọng của hệ thống tố tụng Canada. Không ai bị buộc phải biện hộ là có tội đối vói một lời buộc tội. Theo luật Canada, một bị cáo sẽ được coi là vô tội cho đến khi bị buộc tội. Giả định này chỉ có thể bị thay đổi nếu Tòa án chứng minh ngoài những nghi ngờ hợp lý là người đó đã thực hiện hành vi và có ý định thực hiện hành vi trái pháp luật. Mỗi người đều có quyền yêu cầu Tòa án chứng minh vụ án của mình và sẽ không phải chịu thêm bất kỳ hình phạt nào do việc thực hiện quyền đó tại phiên tòa xét xử.

ở Canada, người bị tình nghi phạm tội đều có quyền im lặng và Luật sư bào chữa thường là người tiếp xúc đầu tiên vối khách hàng sau khi họ bị bắt. Đây là một điểm quan trọng trong quá trình điều tra hình sự. Người bị tạm giữ, tạm giam đang bị Nhà nước cưỡng chế, có thể bị lấy lời khai và các lời khai này có thể chốhg lại họ tại phiên tòa xét xử. Vai trò của Luật sư bào chữa là giải thích (trực tiếp hoặc qua điện thoại) cho khách hàng quyền và nghĩa vụ của họ liên quan đến việc giam giữ, thông báo cho khách hàng của mình vê' quyền im lặng. Vì không thể có mặt trong suốt quá trình lấy lời khai của cảnh sát nên Luật sư bào chữa phải dành đủ thời gian để giải thích cho khách hàng hiểu và cách thức thực hiện quyền này.

Trong lịch sử phát triển của tố tụng hình sự, loại hình tô' tụng đầu tiên xuất hiện là tô' tụng tranh tụng. Các nhà nghiên cứu lịch sử pháp luật đều thông nhất cho rằng, mô hình tô' tụng này đã được áp dụng Hy Lạp cổ đại, sau đó được đưa vào La Mã với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục’ (“Procedure des questions perpétuelle”). Ban đầu, người ta quan niệm rằng, tội phạm là một phạm trù cá nhân, do đó, Nhà nưốc không can thiệp. Tô' tụng hình sự hoạt động theo nguyên tắc “không có tố cáo thì không có xét xử’. Mọi tội phạm đều do cá nhân người bị hại hoặc những người có liên quan đến vụ án đưa ra trước tòa để tòa phán xử. Thủ tục xét xử tại phiên tòa diễn ra theo hình thức “hỏi đáp liên tụd’, hay còn được gọi là tô' tụng tranh tụng. Người khởi kiện phải tự mình thu thập chứng cứ buộc tội, người bị kiện cũng có quyền đưa ra những lý lẽ, chứng cứ của mình để phản bác lại chứng cứ của bên thưa kiện. Tòa án chỉ giữ vai trò trọng tài trung gian để nghe hai bên đối đáp với nhau và trên cơ sở đó, đưa ra phán quyết về vụ án. Các quan tòa không tham gia vào việc thẩm vấn hoặc điều tra, thu thập chứng cứ.

Theo mô hình tô' tụng tranh tụng thì Cơ quan công tô' không phải là cơ quan tiến hành tố tụng mà được coi là một bên tham gia tranh tụng. Công tô' viên cũng như Iuật sư bào chữa là những người có trong tay toàn bộ những chứng cứ của vụ án mà họ tự thu thập được. Trong quá trình xét xử, Công tô' viên và Luật sư bào chữa đóng vai trò chính trong việc thẩm vấn, đối đáp lẫn nhau. Các quan tòa hầu như không có thông tin gì về vụ án trước khi xét xử, mà chỉ thông qua quá trình tranh tụng giữa Công tô' viên và Luật sư bào chữa họ mới có thông tin về nội dung vụ án.

Mô hình tố tụng tranh tụng cũng đặt mục tiêu tìm đến sự thật khách quan của vụ án, tuy nhiên, cách thức mà mô hình tố tụng hình sự này lựa chọn để tìm đến sự thật khách quan của vụ án là tạo ra và bảo đảm quy trình thủ tục thực sự công bằng để các bên (buộc tội và gỡ tội) đi tìm sự thật theo cách của mình trong suốt quá trình giải quyết vụ án. “Công bằng’ vừa được coi là cách thức, vừa được coi là yêu cầu mà mô hình tố tụng hình sự tranh tụng sử dụng để đạt được mục đích tìm ra sự thật khách quan. Chính vì vậy, mô hình tố tụng tranh tụng thường được coi là dựa trên thuyết “đôĩ kháng’, còn mô hình tố tụng thẩm vấn được coi là dựa trên thuyết “sự thậtĩ’. Nếu như mô hình tố tụng tranh tụng dựa vào sự va chạm, đốì tụng của hai bên (Công tố viên và Luật sư) để tìm ra sự thật, thì mô hình tố tụng thẩm vấn dựa vào trí tuệ của những người chuyên nghiệp, huy động Điều tra viên, Công tố viên và Thẩm phán để tìm ra sự thật khách quan của vụ án.

Trong quá trình điều tra và trong suốt quá trình tô' tụng, Luật sư bào chữa và Công tố viên đại diện cho những lợi ích khác nhau và có mục tiêu khác nhau. Bên bào chữa bảo vệ lợi ích của bị can và chỉ chuyên tìm những chứng cứ nhằm gỡ tội cho bị can; bên công tô' có nhiệm vụ buộc tội nên chỉ chú trọng tới các chứng cứ buộc tội. Bên công tô' không có nghĩa vụ phải xem xét các chứng cứ gỡ tội, cũng như bên Luật sư có quyền bỏ qua các chứng cứ buộc tội thân chủ của mình. Trong mô hình tô tụng tranh tụng, Công tô' viên và Luật sư bào chữa có nghĩa vụ thường xuyên phải trao đổi thông tin về chứng cứ của mình cho phía bên kia. Đặc biệt, do có lợi thế nghề nghiệp hơn trong việc thu thập chứng cứ, pháp luật quy định Công tố viên có nghĩa vụ phải trao đổi thông tin về hồ sơ hình sự của mình cho Luật sư bào chữa. Sự tham gia của Tòa án trong giai đoạn tiền xét xử rất hạn chế. Tòa án chỉ tham gia khi có đê' nghị của phía Cơ quan điều tra, Cơ quan công tố về việc bắt, tạm giam nghi can hoặc trong trường hợp có những nhân chứng quan trọng không chịu hợp tác thì các bên có thể yêu cầu Tòa án triệu tập nhân chứng đó tối để lấy lời khai trước một Đại bồi thẩm đoàn.

5. Vai trò của Luật sư trong tổ tụng hình sự tại Việt Nam

Tại Việt Nam, chế định luật sư đã được quy định tương đối cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên do nhận thức chưa thật đầy đủ và do chưa có sự hướng dẫn cụ thể, đồng bộ, thống nhất dẫn đến việc luật sư tham gia vào hoạt động tố tụng.

Sự tham gia của luật sư trong tố tụng không chỉ giúp bị can, bị cáo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, mà còn góp phần trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án, giúp việc điều tra, truy tố và xét xử được nhanh chóng, chính xác, tránh làm oan người vô tội, để lọt tội phạm. Tuy nhiên vị trí, vai trò của luật sư chưa được nhìn nhận đúng và chưa thực sự bảo đảm theo yêu cầu của pháp luật. Theo quy định của pháp luật, luật sư có thể tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can, thậm chí còn sớm hơn là từ khi có quyết định tạm giữ. Nhưng trên thực tế tỉ lệ các vụ án luật sư được tham gia từ giai đoạn điều tra còn quá thấp so với tổng số vụ án hình sự bị khởi tố, trong đó có cả những vụ án theo quy định của pháp luật sự tham gia của luật sư là bắt buộc theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng. Về vấn đề này có nhiều nguyên nhân, là do bị can không biết mình có quyền mời luật sư hoặc biết nhưng vì có khó khăn về tài chính nên không thể thuê luật sư. Bên cạnh đó còn có một nguyên nhân là do cơ quan tố tụng chưa tạo điều kiện để luật sư thực hiện đầy đủ chức năng tố tụng của mình, một số điều tra viên chưa ủng hộ việc luật sư được tham gia từ giai đoạn điều tra. Trong một số trường hợp sự không ủng hộ này được thể hiện bằng cách khuyên bị can không nên mời luật sư mà tốt nhất là khai báo trung thực để được hưởng khoan hồng. Đối với bị can kém hiểu biết pháp luật, lại ở trong tình trạng tạm giam, do vậy tâm lý bất ổn, lo lắng, vì vậy thường nghe theo lời khuyên nói trên là điều thường có thể xảy ra. Trong trường hợp bị can từ chối luật sư, nhưng khi luật sư đề nghị được xem văn bản từ chối luật sư của bị can thì điều tra viên lấy lý do là luật sư chưa được cấp giấy chứng nhận là người bào chữa cho nên không được xem văn bản từ chối luật sư của bị can. Rất khó xác định được việc từ chối luật sư của bị can có phải xuất phát từ ý chí của bị can hay từ sức ép nào đó. Trong trường hợp này cơ quan điều tra phải tạo điều kiện để bị can được tiếp xúc với luật sư, còn quyền từ chối luật sư của bị can có thể thực hiện ở bất cứ giai đoạn nào của tố tụng. Việc gặp gỡ với luật sư không làm mất đi quyền từ chối luật sư của bị can, nó chỉ giúp cho bị can nhận thức đúng hơn về vai trò của luật sư cũng như sáng suốt hơn trong việc lựa chọn người bào chữa cho mình.

Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo là nguyên tắc dân chủ trong tố tụng hình sự vì vậy việc mở rộng sự tham gia của luật sư trong tố tụng hình sự, cho phép luật sư tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ là cần thiết. Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo cần thực hiện theo hướng mở rộng quyền của của bị can, bị cáo và cho phép luật sư tham gia sớm hơn và trong mọi giai đoạn của tố tụng, đồng thời tăng cường trách nhiệm của cơ quan, người tiến tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm quyền tham gia tố tụng của luật sư.

Sự tham gia của luật sư ở giai đoạn điều tra không chỉ mở rộng những nguyên tắc dân chủ trong tố tụng hình sự mà còn nâng cao chất lượng điều tra, tăng cường pháp chế trong giai đoạn điều tra. Việc bào chữa kiên định, dũng cảm trong vụ án hình sự không những không cản trở mà còn thúc đẩy cuộc đấu tranh chống tội phạm, giúp khắc phục những sai lầm trong việc xử lý vụ án. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và các đương sự khác bằng những phương tiện hợp pháp luật sư thể hiện vai trò của mình trong việc bảo vệ quyền công dân, góp phần vào công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam. Vì vậy cần có nhận thức đúng về vị trí, vai trò của luật sư trong tố tụng nói riêng và trong xã hội nói chung. Nhận thức đó phải được quán triệt trong các cơ quan nhà nước, đặc biệt là các cơ quan tiến hành tố tụng và mọi người dân.

Theo quy định của Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự, luật sư có thể tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trong trường hợp bắt người thì luật sư có thể tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ. Luật sư có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, hỏi cung bị can, được gặp bị can, bị cáo. Đồng thời, điều luật còn mở rộng quyền của luật sư là: thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản.

Trong giai đoạn điều tra luật sư có quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu được điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can. Việc có mặt luạt sư trong các buổi lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can không những giúp cho họ tự tin hơn trong khai báo mà còn ngăn ngừa sự vi phạm từ phía cơ quan tiến hành tố tụng, tránh tình trạng khi ra toà có sự phản cung, khiếu nại về việc dùng nhục hình, bức cung, mớm cung...Trên thực tế việc luật sư tham gia các hoạt động hỏi cung gặp không ít khó khăn. Thường thì cơ quan điều tra không báo thời gian hỏi cung hoặc đã hẹn ngày nhưng sau đó lại hoãn đôi khi lại hoãn nhiều lần.Nếu may mắn được tham dự việc hỏi cung thì chỉ được ngồi nghe mà không được hỏi vì điều tra viên không dành thời gian để luật sư hỏi bị can.

Để tạo thuận lợi cho luật sư trong việc bào chữa, Bộ luật Tố tụng hình sự còn quy định luật sư có quyền gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Trên thực tế việc luật sư gặp bị can, bị cáo gặp rất nhiều khó khăn, đòi hỏi phải xuất trình nhiều giấy tờ, thủ tục phiền hà. Còn việc gặp người bị tạm giữ chỉ là ước mơ mà thôi. Trong trường hợp được gặp bị can, bị cáo thì việc gặp đó đều có sự giám sát của điều tra viên hoặc cán bộ trại giam, thời gian và số lần gặp đều bị hạn chế. Việc gặp gỡ của luật sư với bị can, bị cáo là cần thiết, phải bảo đảm cho luật sư được gặp riêng bị can, bị cáo để trao đổi về những vấn đề có liên quan đến việc bào chữa. Không được có bất kỳ sự can thiệp, cản trở nào từ phía cơ quan điều tra, cơ quan quản lý trại tạm giam. Việc gặp gỡ đó không bị hạn chế về số lượng và thời gian gặp. Để tạo điều kiện cho luật sư được gặp riêng bị can, bị cáo thì việc giám sát đó chỉ trong "tầm nhìn" chứ không trong "tầm nghe".

Một trong những quyền của luật sư là được nghiên cứu hồ sơ vụ án mà cụ thể là được đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu có liên quan đến bào chữa. Nhiều vụ án hồ sơ rất lớn và phức tạp, nhưng thời gian dành cho luật sư nghiên cứu rất hạn chế. Mặt khác luật sư không được bố trí nơi ngồi để nghiên cứu mà phải ngồi ngoài hành lang, tiền sảnh để đọc hồ sơ vụ án. Mặc dù Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định cho luật sư được sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án, nhưng cơ quan tiến hành tố tụng chưa thực sự tạo điều kiện cho luật sư thực hiện quyền này. Nhiều cơ quan đã nghĩ ra đủ cách để trì hoãn việc sao chụp tài liệu như không có nhân viên giám sát luật sư sao chụp, máy photocopy hỏng hoặc tiền photo quá cao.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê