- 1. Vùng nước cảng biển là gì?
- 2. Lực lượng, phương tiện tham gia tìm kiếm, cứu nạn trong vùng nước cảng biển?
- 3. Nguyên tắc phối hợp tìm kiếm, cứu nạn trên biển và trong vùng nước cảng biển
- 4. Trách nhiệm phát và tiếp nhận tín hiệu cấp cứu - khẩn cấp
- 5. Trách nhiệm cứu hộ, cứu nạn của người, phương tiện hoạt động trên biển và trong vùng nước cảng biển
- 6. Phân vùng trách nhiệm chủ trì phối hợp tìm kiếm, cứu nạn người, phương tiện hoạt động trên biển và trong vùng nước cảng biển
1. Vùng nước cảng biển là gì?
Định nghĩa vùng nước cảng biển có thể được tìm thấy trong Quy chế phối hợp tìm kiếm, cứu nạn trên biển và trong vùng nước cảng biển, được ban hành theo Quyết định 06/2014/QĐ-TTg. Theo quy định này:
Vùng nước cảng biển đề cập đến một khu vực nước biển thuộc quyền quản lý của Cảng vụ hàng hải, được cơ quan có thẩm quyền công bố. Nó bao gồm nhiều phần khác nhau, như vùng nước trước cầu cảng, khu quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển tải, khu tránh bão, vùng đón trả hoa tiêu, vùng kiểm dịch, vùng xây dựng luồng cảng biển và các công trình hỗ trợ khác.
2. Lực lượng, phương tiện tham gia tìm kiếm, cứu nạn trong vùng nước cảng biển?
Các tài nguyên và nguồn lực tham gia vào hoạt động tìm kiếm và cứu nạn trong khu vực nước cảng biển, theo Điều 5 của Quy chế phối hợp tìm kiếm, cứu nạn trên biển và trong vùng nước cảng biển, như được quy định trong Quyết định 06/2014/QĐ-TTg, bao gồm:
- Lực lượng và phương tiện tìm kiếm, cứu nạn chuyên nghiệp trực thuộc Cục Hàng hải Việt Nam, cùng với các đơn vị tìm kiếm và cứu nạn chuyên nghiệp thuộc các Bộ, ngành, tỉnh thành, và tổ chức cá nhân khác.
- Lực lượng và phương tiện thuộc quyền quản lý và sử dụng của Cảng vụ hàng hải, Cảng vụ Đường thủy nội địa, Ban quản lý cảng cá, cùng với tài nguyên của Công an, Quân đội, các tổ chức, và cá nhân tại cấp địa phương, cũng như của các cơ quan Trung ương đóng tại địa phương.
- Lực lượng và phương tiện khác hoạt động trên biển và trong khu vực nước cảng biển.
- Lực lượng, phương tiện và thiết bị đảm bảo liên lạc, cấp cứu y tế, và các yếu tố bảo đảm khác cho hoạt động tìm kiếm và cứu nạn.
- Lực lượng và phương tiện tìm kiếm, cứu nạn của các nước ngoài, khi được cơ quan có thẩm quyền Việt Nam cho phép.
3. Nguyên tắc phối hợp tìm kiếm, cứu nạn trên biển và trong vùng nước cảng biển
Theo Điều 4 của Quy chế, theo Quyết định 06/2014/QĐ-TTg thì vùng nước cảng biển được xác định là khu vực nước biển nằm trong phạm vi quyền quản lý của Cảng vụ hàng hải, được công bố bởi cơ quan có thẩm quyền. Khu vực này bao gồm nhiều phần khác nhau như vùng nước trước cầu cảng, vùng quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển tải, khu tránh bão, vùng đón trả hoa tiêu, vùng kiểm dịch, vùng xây dựng luồng cảng biển, và các cơ sở hỗ trợ khác.
Nguyên tắc phối hợp tìm kiếm và cứu nạn trên biển và trong vùng nước cảng biển được xác định như sau:
- Tập hợp tất cả các nguồn lực có sẵn để tối ưu hóa hiệu suất của hoạt động tìm kiếm và cứu nạn trên biển và trong vùng nước cảng biển, với ưu tiên dành cho việc cứu hộ người mắc kẹt và bảo vệ môi trường. Sẵn sàng và tích cực đưa ra lực lượng cho các hoạt động ứng phó dựa trên đặc điểm cụ thể của từng vùng và tình hình cụ thể.
- Đảm bảo thông tin là một phần quan trọng của hoạt động tìm kiếm và cứu hộ; ưu tiên việc thu thập, xử lý thông tin liên quan đến tìm kiếm và cứu hộ, và báo cáo kịp thời cho các cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện tình huống vượt quá khả năng ứng phó của các lực lượng tham gia.
- Tổ chức chỉ huy thống nhất và phối hợp mạnh mẽ giữa tất cả các lực lượng và tàu thuyền hoạt động trên biển tham gia vào hoạt động tìm kiếm và cứu hộ. Đảm bảo an toàn cho cả người và tàu thuyền tham gia vào hoạt động tìm kiếm và cứu hộ.
4. Trách nhiệm phát và tiếp nhận tín hiệu cấp cứu - khẩn cấp
Theo Điều 11, Khoản 1, theo Quy chế phối hợp thì người hoặc phương tiện gặp sự cố hoặc đối mặt với nguy cơ trên biển và trong khu vực nước cảng biển cần sự hỗ trợ và cứu hộ, trừ trường hợp khẩn cấp không thể thông báo, phải tuân theo các quy định sau đây:
- Thông báo về tình trạng cấp cứu - khẩn cấp tới Hệ thống đài thông tin duyên hải Việt Nam hoặc hệ thống đài trực canh thuộc Bộ Đội Biên phòng hoặc hệ thống quan sát tàu cá của Tổng Cục Thủy sản. Ngoài ra, cần thông báo cho các phương tiện đang hoạt động trên biển gần khu vực xảy ra sự cố để yêu cầu sự hỗ trợ và cứu hộ.
- Trong trường hợp đề xuất được lái dắt và cứu hộ, bên cần cung cấp thông tin chi tiết như tên của phương tiện gặp sự cố, thời gian và vị trí sự cố, tính chất của sự cố, các phương tiện liên lạc, số lượng và tình trạng sức khỏe của thủy thủ và người trên phương tiện, tình trạng thời tiết, tình hình sóng, gió tại khu vực xảy ra sự cố, thông tin về tần số, thiết bị thông tin, thiết bị cứu sinh, và các thông số kỹ thuật của phương tiện gặp sự cố, như trọng lượng, chiều dài, chiều rộng, và độ mớn nước.
- Đảm bảo sự duy trì của việc liên lạc với những người, tổ chức, hoặc cơ quan đã được thông báo để thực hiện các hoạt động tìm kiếm, cứu hộ, và hỗ trợ, thông qua Hệ thống đài thông tin duyên hải Việt Nam hoặc trực tiếp.
- Trong trường hợp nguy cơ đã được loại trừ và không gây nguy hiểm cho mình hoặc phương tiện của mình, bên cần thông báo ngay lập tức cho những người, tổ chức hoặc cơ quan đã được thông báo trước để tạm ngừng các hoạt động cứu hộ.
5. Trách nhiệm cứu hộ, cứu nạn của người, phương tiện hoạt động trên biển và trong vùng nước cảng biển
Theo Khoản 2, Điều 11 Quy chế phối hợp thì với Thuyền trưởng của các phương tiện hoạt động trên biển và trong vùng nước cảng biển, trong trường hợp họ phát hiện hoặc nhận được tín hiệu cấp cứu - khẩn cấp ở gần vùng hoạt động của họ, họ phải chịu trách nhiệm đến cứu giúp người gặp nạn, miễn là việc này không ảnh hưởng đến an toàn của họ hoặc phương tiện của họ. Đồng thời, họ phải thông báo cho Hệ thống đài thông tin duyên hải Việt Nam về việc họ tham gia vào hoạt động tìm kiếm và cứu hộ. Nếu họ không thể tham gia cứu hộ (vì rủi ro về an toàn của họ, phương tiện của họ hoặc đang thực hiện nhiệm vụ khẩn cấp khác), họ phải thông báo cho Trung tâm phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng hải khu vực để thông báo về tình hình.
Mọi tổ chức và cá nhân khi phát hiện hoặc nhận thông tin về người hoặc phương tiện bị nạn phải thông báo kịp thời cho các cơ quan và lực lượng có trách nhiệm tham gia vào hoạt động tìm kiếm và cứu hộ để họ có thể tiến hành xử lý tình huống. Người cung cấp thông tin cấp cứu phải chịu trách nhiệm về tính xác thực của thông tin mà họ cung cấp.
Hệ thống đài thông tin duyên hải Việt Nam và các hệ thống đài thông tin tìm kiếm, cứu hộ của các Bộ, ngành và địa phương hoạt động liên tục 24/24 giờ để tiếp nhận thông tin cấp cứu - khẩn cấp trên biển và thông báo cho các cơ quan và tổ chức có trách nhiệm trong việc tìm kiếm và cứu hộ.
Các cơ quan có nhiệm vụ trong hoạt động tìm kiếm và cứu hộ cũng tổ chức nhiệm vụ của họ liên tục 24/24 giờ để tiếp nhận và xử lý thông tin, và họ sẵn sàng chuẩn bị kế hoạch và thực hiện hoạt động tìm kiếm và cứu hộ khi cần thiết.
6. Phân vùng trách nhiệm chủ trì phối hợp tìm kiếm, cứu nạn người, phương tiện hoạt động trên biển và trong vùng nước cảng biển
Quy định về phân vùng trách nhiệm chủ trì phối hợp hoạt động tìm kiếm và cứu hộ người và phương tiện hoạt động trên biển và trong khu vực nước cảng biển được xác định như sau:
(1) Trung tâm Phối hợp Tìm kiếm và Cứu hộ Hàng hải Việt Nam chịu trách nhiệm chủ trì và phối hợp hoạt động tìm kiếm và cứu hộ trên biển Việt Nam, trừ các khu vực nước cảng biển, vùng cấm, và vùng hạn chế trên biển.
(2) Ủy ban Nhân dân của các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương ven biển đảm nhận trách nhiệm chủ trì và phối hợp hoạt động tìm kiếm và cứu hộ trong khu vực thuộc quản lý của họ, ngoại trừ vùng nước cảng biển, vùng cấm, và vùng hạn chế được công bố bởi Bộ Quốc phòng.
(3) Cảng vụ Hàng hải chịu trách nhiệm chủ trì và phối hợp hoạt động tìm kiếm và cứu hộ trong khu vực nước cảng biển.
(4) Bộ Quốc phòng đảm nhận trách nhiệm chủ trì và phối hợp hoạt động tìm kiếm và cứu hộ trong vùng cấm và vùng hạn chế trên biển.
(5) Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm và Cứu hộ chịu trách nhiệm chủ trì và tập hợp lực lượng và phương tiện của các Bộ, ngành và địa phương để tham gia vào hoạt động phối hợp tìm kiếm và cứu hộ trong trường hợp không thể xác định vị trí cụ thể của người hoặc phương tiện bị nạn, hoặc trong trường hợp cần sự can thiệp vượt ra ngoài khả năng ứng phó của các cơ quan.
Bài viết liên quan: Mẫu giấy phép cho tàu thuyền nước ngoài vào tìm kiếm, cứu nạn trong vùng biển Việt Nam (mẫu số 4)
Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng thông qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!