1. Mẫu bảng kê nộp thuế  

Mẫu số: 01/BKNT

(ban hành kèm theo Thông tư số 119/2014/TT-BTC

ngày 25/8/2014 của Bộ Tài chính)

BẢNG KÊ NỘP THUẾ

 

Người nộp thuế :........................................................ . Mã số thuế :.....................

Địa chỉ :........................................................ Huyện .......................Tỉnh, TP ........... 

Người nộp thay: ............................. Mã số thuế của người nộp thay ....................... 

Địa chỉ :......................................................... Huyện ................... Tỉnh, TP ................ 

Đề nghị KBNN (NH) .......................... trích TK số......................... hoặc tiền mặt để:

Nộp vào NSNN c TK tạm thu(1) c TK thu hồi quỹ hoàn thuế GTGT(2) c

Tại KBNN : .........................…………..tỉnh, TP: …………………………………………… 

Mở tại NHTM ủy nhiệm thu: …………………….…………………………………………… 

Trường hợp nộp theo kết luận của CQ có thẩm quyền(3):

Kiểm toán NN c Thanh tra TC c

Thanh tra CP c CQ có thẩm quyền khác c

Tên cơ quan quản lý thu : ............................................................................... 

Tờ khai HQ số(1): ......... ngày ..................  Loại hình XNK(1) .........................

STT

Nội dung các khoản nộp NS (4)

Loại tiền

Số tiền

Tổng cộng

Tổng số tiền ghi bằng chữ: ………………………………………………………… 

……………………………………………..........................................................… 

Ngày… tháng… năm…

ĐỐI TƯỢNG NỘP TIỀN KBNN (NGÂN HÀNG)

Người nộp tiền Kế toán trưởng (5) Thủ trưởng đơn vị(5) Người nhận tiền

(Ký, ghi họ tên)

Ghi chú:

Mẫu này chỉ sử dụng trong trường hợp NNT nộp tiền tại NHTM đã được uỷ nhiệm thu hoặc nộp tiền trực tiếp tại KBNN.

Khi nộp tiền vào NSNN, NNT phải ghi đầy đủ các thông tin trên Bảng kê nộp thuế gửi NHTM đã được uỷ nhiệm thu/phối hợp thu hoặc KBNN. Trong đó, lưu ý cách ghi một số chỉ tiêu như sau:

* Chỉ tiêu (1): Dùng trong trường hợp nộp các khoản thu trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu do cơ quan hải quan quản lý thu;

* Chỉ tiêu (2): Dùng trong trường hợp nộp vào khoản thuế GTGT đã được hoàn sai vào tài khoản thu hồi của quỹ hoàn thuế GTGT do cơ quan thuế quản lý.

* Chỉ tiêu (3): Trường hợp nộp theo văn bản của Kiểm toán nhà nước, Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Tài chính, Cơ quan có thẩm quyền khác thì tích vào ô tương ứng;

* Chỉ tiêu (4): Nội dung các khoản nộp NS

- Trường hợp nộp cho tờ khai thuế phải ghi cụ thể:

+ Nộp thuế GTGT từ sản xuất kinh doanh trong nước tháng 1/2014 hoặc quý 1/2014;

+ Nộp thuế GTGT từ hoạt động xổ số kiến thiết tháng 1/2014;

+ Nộp thuế TNDN từ chuyển nhượng bất động sản quý 2/2014

+ Nộp thuế TNDN từ sản xuất kinh doanh quý 1/2014

+ Nộp thuế TNDN từ hoạt động xổ số kiến thiết quý 3/2014

+ ………………

- Trường hợp nộp cho Quyết định, Thông báo của cơ quan có thẩm quyền phải ghi cụ thể:

+ Nộp thuế GTGT từ sản xuất kinh doanh trong nước theo Quyết định số … ngày … của

+ Nộp thuế TNDN từ hoạt động xổ số kiến thiết theo Quyết định số … ngày … của .

- Trường hợp cơ quan thuế, cơ quan được cơ quan thuế ủy nhiệm thu nộp tiền vào NSNN: ghi theo loại thuế cần nộp, số, ngày của Bảng kê biên lai thu;

- Trường hợp cơ quan thu tiền phạt nộp tiền vào NSNN: ghi loại tiền phạt cần nộp, số, ngày của Bảng kê thu tiền phạt.

* Chỉ tiêu (5): Dùng trong trường hợp các tổ chức nộp tiền bằng chuyển khoản.

 

2. Khái niệm thuế 

Một trong những khái niệm phổ biến về thuế đó là “Thuế là một khoản thu bắt buộc, không bồi hoàn trực tiếp của Nhà nước đối với các tổ chức và các cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước vì lợi ích chung”.

Ngoài ra còn có khái niệm khác “Thuế là một khoản phí tài chính bắt buộc hoặc một số loại thuế khác áp dụng cho người nộp thuế (một cá nhân hoặc pháp nhân) phải trả cho một tổ chức chính phủ để tài trợ cho các khoản chi tiêu công khác nhau”.

Thuế được áp dụng lần đầu tiên ở Ai Cập cổ đại vào khoảng năm 3000-2900 TCN, nếu không trả tiền hoặc trốn thuế chống lại việc nộp thuế sẽ bị phạt theo quy định của Pháp luật.

Khi xã hội loài người được hình thành cần có một tổ chức lãnh đạo được lập ra và hoạt động nhằm đem đến lợi ích cho tất cả mọi người. Điều này đặt ra phải có một quỹ chung để thực hiện và chi cho các công việc cần thiết thuế được hình thành. Hiện nay, thuế đã trở thành một công cụ không thể thiếu dù ở bất cứ xã hội nào. Nhà nước đặt ra chế độ thuế khóa do dân cư đóng góp để có tiền chi tiêu cho sự tồn tại và hoạt động của mình.

 

3. Đặc điểm thuế 

Thuế là một trong những chính sách quan trọng mà Nhà nước ban hành nhằm đảm cho việc duy trì nguồn ngân sách nhà nước. Chính vì vậy, thuế có những đặc điểm đặc trưng phân biệt rõ rệt với các khoản thu khác của Nhà nước không phải là thuế. Cụ thể có thể kể đến những đặc điểm cơ bản sau:

- Thuế được xác định là những khoản nghĩa vụ do Nhà nước quy định phải nộp với những điều kiện nhất định, khi chủ thể đáp ứng đủ các điều kiện đó thì bắt buộc phải thực hiện việc nộp thuế vào Ngân sách cho nhà nước.

Nhà nước ban hành các chính sách thuế nhằm mục đích đảm bảo việc thu nộp thuế của các chủ thể được thực hiện một cách đồng bộ, hiệu quả, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Thuế được xác định là khoản nghĩa vụ mà các chủ thể bắt buộc phải thực hiện, bên cạnh các quy định về cách thức, mức nộp thuế pháp luật còn quy định về các chế tài đối với những trường hơp không nộp hoặc nộp không đầy đủ về khoản thuế mà mình đang có nghĩa vụ nhằm răn đe, đảm bảo công tác thu nộp thuế được thực hiện một cách nghiêm minh.

Bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào chỉ cần đáp ứng đủ điều kiện pháp luật quy định đều phải có nghĩa vụ nộp thuế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thực hiện công tác thu thuế theo trình tự pháp luật quy định, không có bất kỳ sự ưu tiên cho đối tượng nào.

- Thuế là khoản thu chứa đựng yếu tố quyền lực của nhà nước

Như ở trên đã đề cập, sự xuất hiện của thuế gắn liền với nhà nước, thu thuế chính là một trong những biện pháp đảm bảo nguồn ngân sách của Nhà nước nhằm phát huy vai trò của Nhà nước đối với xã hội. Chính vì vậy, Nhà nước đã ban hành và hệ thống hóa các chính sách về thuế vào các quy định của pháp luật nhằm để đảm bảo việc tuân thủ thực hiện nghĩa vụ thu nộp thuế khi các tổ chức, cá nhân đủ điều kiện đều buộc phải tuân thủ. Tính quyền lực của nhà nước trong việc thu nộp thuế còn thể hiện qua việc Nhà nước ban hành các quy định về chế tài áp dụng đối với những trường hợp không tuân thủ các quy định về thu nộp thuế. Những quy định này không chỉ đảm bảo tính răn đe mà còn là biện pháp để luôn đảm bảo việc thu nộp thuế được thực hiện một cách đồng bộ, hiệu quả, đảm bảo nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước.

- Bản chất thuế không hoàn trả trực tiếp và không mang tính đối giá

Thuế là khoản thu nộp mang tính chất đặc thù, Nhà nước ban hành quy định về các loại thuế phải nộp và điều kiện để đóng những loại thuế đó. Như vậy, người nộp thuế chỉ cần đáp ứng những điều kiện mà pháp luật quy định thì đều phải có nghĩa vụ thực hiện đóng thuế bất kể có nhận được khoản lợi ích nào hay chưa. Điều này hoàn toàn khác với việc đóng nộp phí và lệ phí, đó là những khoản mà người nộp thực hiện khi đã nhận được một lợi ích ngay từ phía nhà nước. Đối với thuế, người nộp thuế nhận được những lợi ích không thể xác định dưới dạng vật chất do thuế mang lại khi nhà nước thực hiện chức năng của mình. Điều này xuất phát từ mục đích của việc thu thuế chính là dùng để chi tiêu cho các sản phẩm công, người nộp thuế được hoàn trả gián tiếp như: như: Nhà nước đảm bảo an ninh quốc phòng, y tế, giáo dịch, …Đây là những lợi ích chung mà cả người nộp thuế và người không có nghĩa vụ nộp thuế đều được hưởng không phụ thuộc vào số tiền thuế phải nộp.

- Về phạm vi áp dụng của thuế

Có thể nói, thuế là chính sách được Nhà nước ban hành và áp dụng chung trên toàn phạm vi lãnh thổ, thực hiện đồng bộ, nhất quán giữa các địa phương không phân biệt. Tất cả những đối tượng nằm trong phạm vi điều chỉnh của pháp luật về thuế đều có nghĩa vụ thực hiện việc thu nộp thuế.

Việc nghiên cứu các đặc điểm này của thuế giúp cho các nhà làm luật lựa chọn sự điều chỉnh pháp luật một cách phù hợp đối với thuế, mặt khác giúp cho các đối tượng có liên quan thực hiện đầy đủ chức trách và nhiệm vụ của mình. Quy định nội dung các loại thuế mà còn xác lập các quyền, nghĩa vụ của các chủ thể, các biện pháp đảm bảo thực hiện thu, nộp thuế.

Bên cạnh đó, với đặc thù của Việt Nam là nền kinh tế với cơ cấu nhiều thành phần, việc ban hành hệ thống pháp luật về thuế đã góp phần đảm bảo cho chính sách thuế được thực hiện một cách thống nhất, điều chỉnh toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, các nguồn thu nhập của tổ chức, cá nhân trong xã hội.

Việc nghiên cứu các đặc điểm sẽ giúp các nhà làm luật nghiên cứu các quy định của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế, phạm vi đối tượng nộp thuế, thuế suất, miễn giảm thuế…qua đó giúp Nhà nước chủ động phát huy vai trò điều tiết đối với nền kinh tế.

 

4. Phân loại thuế

Căn cứ vào nhiều tiêu thức khác nhau mà người ta phân thuế ra thành nhiều loại để có thể dễ dàng quản lý. cụ thể:

- Phân loại theo hình thức thu gồm:

Thuế trực thu: Là loại thuế thu trực tiếp vào khoản thu nhập, lợi ích thu được của các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân. VD: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế chuyển nhượng quyền sở hữu đất.

Thuế gián thu: Là loại thuế do các nhà sản xuất, thương nhân hoặc người cung cấp dịch vụ nộp cho Nhà nước thông qua việc cộng số thuế này vào giá bán cho người tiêu dùng chịu. VD: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu.

- Phân loại theo tính chất hành chính gồm:

Thuế nhà nước (quốc gia): nộp vào ngân sách trung ương

Thuế địa phương: nộp vào ngân sách chính quyền địa phương

Cách phân loại này thường được sử dụng trong kế toán quốc gia, dựa vào cách tổ chức quản lý thu và cấp ngân sách thụ hưởng chúng.

- Phân loại thuế theo tính chất kinh tế gồm có:

Dựa theo yếu tố kinh tế bị đánh thuế: Thuế được chia thành thuế đánh vào thu nhập, thuế đánh vào tài sản tiêu dùng, thuế đánh vào tài sản, thuế đánh vào doanh nghiệp

Dựa theo yếu tố và tác nhân kinh tế chịu thuế: Thuế có các loại gồm thuế đánh vào doanh nghiệp như: Thuế môn bài, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập cá nhân, thuế tài nguyên, thuế tiêu thụ đặc biệt, phí, lệ phí khác, tiền thuế đất, thuế đánh vào hộ gia đình, thuế đánh vào sản phẩm.

Dựa theo lĩnh vực, thuế được phân chia theo các lĩnh vực kinh tế bị đánh thuế: Ví dụ thuế đánh vào bảo hiểm, thuế đánh vào tiết kiệm, thuế đánh vào bất động sản…

 

5. Vai trò của thuế

– Thuế tạo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, Thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất, mang tính chất ổn định lâu dài và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng.

– Công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô: Góp phần thực hiện chức năng kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của kế hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân.

– Thuế giúp điều tiết nền kinh tế: Thuế tham gia điều tiết nền kinh tế gồm hai mặt: Kích thích và hạn chế. Thông qua thuế, nhà nước đã linh hoạt điều chính các chính sách thuế trong từng thời kỳ nhất định, nhằm tác động vào cung-cầu giúp điều chỉnh chu kỳ kinh tế – một đặc trưng vốn có của nền kinh tế thị trường.

– Thuế giúp đảm bảo công bằng xã hội: Thông qua thuế, nhà nước sẽ điều tiết phần chênh lệch thu nhập giữa người giàu và người nghèo, bằng việc việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hoá công cộng.