>> Tải ngay: Mẫu đơn đề nghị cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giảm mức lãi suất và giữ nguyên nhóm nợ

1. Mẫu đơn đề nghị.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—–o0o—–

…………., ngày… tháng…. năm…..

ĐƠN ĐỀ NGHỊ

(V/v: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giảm mức lãi suất và giữ nguyên nhóm nợ)

Kính gửi: Ngân hàng………………

– Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 16 tháng 6 năm 2010;

>> Xem thêm:  Có được miễn giảm lãi của ngân hàng khi bị ảnh hưởng của dịch covid 19 ? Mức lãi suất cho vay ?

– Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng ngày 16 tháng 6 năm 2010; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng ngày 20 tháng 11 năm 2017;

– Căn cứ Thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 13 tháng 3 năm 2020 của Ngân hàng nhà nước quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng do dịch Covid-19

– Căn cứ hợp đồng vay tín dụng số………

Tôi tên là: NGUYỄN NGỌC H Sinh ngày: ..../...../19....

Căn cước công dân số: 04818200..........

Cấp ngày: ...../..../20.... Nơi cấp: Cục trưởng cục cảnh sát ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư

Địa chỉ thường trú:………………………………..……………………………………

Địa chỉ hiện tại:…………………………………….…………………………………..

Số điện thoại:……………………………………………………………………………

>> Xem thêm:  Cho vay lãi suất cao khi nào thì phạm luật ? Những chiêu thức lừa cho vay với lãi suất cắt cổ ?

Tôi là bên vay trong hợp đồng vay tín dụng số…………... được ký kết vào ngày…/…/…. giữa tôi và Ngân hàng ……… với số tiền là:……. VNĐ.

Nội dung hợp đồng có ghi rõ số tiền vay và mức lãi suất hàng tháng mà tôi phải trả là:…..VNĐ.

Ngoài ra, tôi có đăng ký mở thẻ tín dụng …. tại Ngân hàng…………

Hiện tại, thiệt hại do hậu quả của tình dịch dịch bệnh Covid-19 đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh dẫn đến việc doanh thu, nguồn thu nhập của tôi bị sụt giảm nghiêm trọng, thực sự gây khó khăn cho việc thực hiên nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo hợp đồng và việc chi trả tiền gốc, lãi hàng tháng cho phía Ngân hàng. Do đó, số tiền gốc và lãi phải trả cho ngân hàng mỗi tháng giờ trở thành một gánh nặng rất lớn cho bản thân tôi cũng như gia đình.

Xét thấy:

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Khoản 2 Điều 4 Thông tư số 01/2020/TT-NHNN về các điều kiện để được xem xét cơ cấu lại thời hạn trả nợ:

“Điều 4. Cơ cấu lại thời hạn trả nợ

1. Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ là số dư nợ gốc và/hoặc lãi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

a) Phát sinh từ hoạt động cho vay, cho thuê tài chính;

b) Phát sinh nghĩa vụ trả nợ gốc và/hoặc lãi trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày liền kề sau 03 tháng kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ công bố hết dịch Covid-19;

c) Khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn nợ gốc và/hoặc lãi theo hợp đồng, thỏa thuận cho vay, cho thuê tài chính đã ký do doanh thu, thu nhập sụt giảm bởi ảnh hưởng của dịch Covid-19.

2. Việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với số dư nợ quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

a) Số dư nợ còn trong hạn hoặc quá hạn đến 10 (mười) ngày kể từ ngày đến hạn thanh toán, thời hạn trả nợ theo hợp đồng, thỏa thuận cho vay, cho thuê tài chính đã ký;

b) Số dư nợ đã quá hạn (trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này) trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày liền kề sau 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành.”

Căn cứ theo quy định tại Điều 5 Thông tư số 01/2020/TT-NHNN về miễn, giảm lãi, phí và Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 01/2020/TT-NHNN quy định về giữ nguyên nhóm nợ:

“Điều 5. Miễn, giảm lãi, phí

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quyết định việc miễn, giảm lãi, phí theo quy định nội bộ đối với số dư nợ phát sinh từ hoạt động cấp tín dụng (trừ hoạt động mua, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp) mà nghĩa vụ trả nợ gốc và/hoặc lãi đến hạn thanh toán trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày liền kề sau 03 tháng kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ công bố hết dịch Covid-19 và khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn nợ gốc và/hoặc lãi theo hợp đồng, thỏa thuận đã ký do doanh thu, thu nhập sụt giảm bởi ảnh hưởng của dịch Covid-19.

Điều 6. Giữ nguyên nhóm nợ

1. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được giữ nguyên nhóm nợ đã phân loại theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thời điểm gần nhất trước ngày 23/01/2020 đối với số dư nợ sau đây:

a) Số dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ quy định tại Điều 4 Thông tư này;

b) Số dư nợ được miễn, giảm lãi quy định tại Điều 5 Thông tư này;

c) Số dư nợ quy định tại điểm a, b khoản này bao gồm cả phần dư nợ đã cơ cấu lại thời hạn nợ, miễn, giảm lãi và điều chỉnh nhóm nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày liền kề sau 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành.”

Căn cứ vào tình hình thực tế của bản thân và đánh giá khả năng trả nợ, xét thấy bản thân đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định trên để được xem xét áp dụng các chính sách theo quy định của Ngân hàng nhà nước.

Vì vậy, tôi làm đơn này kính đề nghị Ngân hàng……………… tạo điều kiện xem xét về trường hợp của tôi, hỗ trợ cho tôi về việc cơ cấu lại thời gian trả nợ, giảm mức lãi suất ngân hàng hàng tháng và giữ nguyên nhóm nợ trong thời gian từ nay đến ngày liền kề sau 03 tháng kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ công bố hết dịch Covid-19 để tôi và gia đình có thể nhanh chóng sắp xếp trả đủ số nợ với ngân hàng.

>> Xem thêm:  Vốn hóa chi phi lãi vay đầu tư thế nào ? Chính sách lãi suất theo quy định mới nhất hiện nay ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người làm đơn

NGUYỄN NGỌC H

2. Quy định về lãi suất cho vay.

Chào Luật sư Minh Khuê, tôi đang có một số vướng mắc như sau mong được các luật sư Minh Khuê giải đáp. Trước đây do gặp hoàn cảnh khó khăn tôi có vay một người bạn với mức lãi suất là 4%/ tháng. Hiện tại tôi đang rơi vào tình trạng mất khả năng để trả số nợ trên do lãi suất phát sinh cộng với dư nợ gốc vượt quá khả năng mà tôi có thể trả. Vậy tôi muốn hỏi mức lãi suất tôi vay như trên có là vay với lãi suất nặng không? Nếu hiện tại tôi khởi kiện ra Tòa thì bên chủ nợ có bị tội cho vay nặng lãi không, tội này xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật, xin cảm ơn luật sư.

Trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến bộ phận hỗ trợ khách hàng của Công ty Luật Minh Khuê, về trường hợp của bạn chúng tôi xin phép được trả lời như sau:

Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về lãi suất cho vay, cụ thể như sau:

"Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ".

Như vậy theo quy định của Bộ luật dân sự thì mức lãi suất cho vay trung bình mỗi tháng sẽ không được vượt quá 1,666%/tháng. Vậy việc bên phía chủ nợ của bạn cho vay với mức lãi suất là 4%/tháng đã vượt quá mức lãi suất tối đa mà pháp luật cho phép. Như vậy nếu các bên có phát sinh tranh chấp thì pháp luật sẽ không thừa nhận và sẽ không bảo đảm với mức lãi suất vượt quá mà bên cho vay đã đưa ra.

3. Tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự

Ngoài ra theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự, cụ thể như sau:

>> Xem thêm:  Mức lãi vay 5 nghìn/1 triệu/1 ngày có vi phạm không ? Mức lãi suất cho vay tiền hợp pháp khi nào ?

"Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm".

Như vậy để cấu thành tội cho vay nặng lãi thì mức lãi suất cho vay phải vượt quá 5 lần mức lãi suất mà Bộ luật dân sự quy định, cụ thể là 5 của của 1,666%/tháng (tương đương với 8,33%/tháng). Vậy với mức lãi suất mà mag bên chủ nợ của bạn đưa ra không cấu thành tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự.

4. Mức phạt cho việc chậm nộp thuế

Kính chào Luật Minh Khuê, tôi đang có một vướng mắc như sau. Công ty tôi hiện tại có chậm đóng thuế giá trị gia tăng. Không biết pháp luật hiện tại quy định mức phạt chậm nộp thuế là bao nhiêu. Tôi xin chân thanh cảm ơn!.

Trả lời

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được chúng tôi nghiên cứu và đưa ra hướng trả lời như sau:

Theo như quy định tại Điều 3 Thông tư số 130/2016/TT-BTC của Bộ tài chính hưỡng dẫn thi hành một số điều của Luật quản lý thuế và Thông tư 92/2015/TT-BTC quy định như sau:

1. Sửa đổi Điểm a Khoản 2 Điều 32 như sau:

“a) Người nộp thuế phải nộp tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế được nộp dần theo mức 0,03%/ngày được nộp dần.”

2. Sửa đổi Điểm b.2 Khoản 2 Điều 32 như sau:

“b.2) Nộp thay cho người nộp thuế trong trường hợp quá thời hạn nộp dần tiền thuế từng tháng mà người nộp thuế chưa nộp, bao gồm: số tiền thuế được nộp dần và số tiền chậm nộp tính theo mức 0,03%/ngày.”

3. Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 34 như sau:

“2. Xác định tiền chậm nộp tiền thuế

a) Đối với khoản tiền thuế nợ phát sinh từ ngày 01/7/2016 thì tiền chậm nộp được tính theo mức 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp.

b) Đối với khoản tiền thuế nợ phát sinh trước ngày 01/7/2016 nhưng sau ngày 01/7/2016 vẫn chưa nộp thì tính như sau: trước ngày 01/01/2015 tính phạt chậm nộp, tiền chậm nộp theo quy định tại Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13, từ ngày 01/01/2015 tính tiền chậm nộp theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế số 71/2014/QH13, từ ngày 01/7/2016 tính tiền chậm nộp theo mức 0,03%/ngày.

Ví dụ: Người nộp thuế B nợ 100 triệu đồng tiền thuế GTGT thuộc tờ khai thuế GTGT tháng 8/2014 (tờ khai đã nộp đúng hạn cho cơ quan thuế), thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày 22/9/2014 (do ngày 20/9/2014 và ngày 21/9/2014 là ngày nghỉ). Ngày 20/8/2016, người nộp thuế nộp số tiền thuế này vào ngân sách nhà nước, số ngày chậm nộp được tính từ ngày 23/9/2014 đến ngày 20/8/2016, số tiền chậm nộp phải nộp là 34,08 triệu đồng. Cụ thể như sau:

- Trước ngày 01/01/2015 tiền chậm nộp được tính như sau:

+ Từ ngày 23/9/2014 đến ngày 21/12/2014, số ngày chậm nộp là 90 ngày: 100 triệu đồng x 0,05% x 90 ngày = 4,5 triệu đồng.

+ Từ ngày 22/12/2014 đến ngày 31/12/2014, số ngày chậm nộp là 10 ngày: 100 triệu đồng x 0,07% x 10 ngày = 0,7 triệu đồng.

- Từ ngày 01/01/2015 đến ngày 30/6/2016, số ngày chậm nộp là 547 ngày: 100 triệu đồng x 0,05% x 547 ngày = 27,35 triệu đồng.

- Từ ngày 01/7/2016 đến ngày 20/8/2016, số ngày chậm nộp là 51 ngày: 100 triệu đồng x 0,03% x 51 ngày = 1,53 triệu đồng.

c) Số ngày chậm nộp tiền thuế (bao gồm cả ngày lễ, ngày nghỉ theo quy định của pháp luật) được tính từ ngày liền kề sau ngày cuối cùng của thời hạn nộp thuế, thời hạn gia hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế, thời hạn nộp thuế ghi trong thông báo hoặc quyết định xử lý vi phạm pháp luật về thuế của cơ quan thuế hoặc quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đến ngày người nộp thuế nộp số tiền thuế vào ngân sách nhà nước.

Ví dụ: Người nộp thuế C nợ thuế GTGT 50 triệu đồng, có hạn nộp là ngày 20/8/2013. Ngày 26/8/2013, người nộp thuế nộp số tiền trên vào ngân sách nhà nước. Số ngày chậm nộp là 06 ngày, được tính từ ngày 21/8/2013 đến ngày 26/8/2013.

Ví dụ: Người nộp thuế D được cơ quan thuế quyết định gia hạn nộp thuế đối với khoản thuế GTGT 50 triệu đồng, có hạn nộp là ngày 20/5/2014, thời gian gia hạn từ này 21/5/2014 đến ngày 20/11/2014. Ngày 21/11/2014, người nộp thuế nộp 50 triệu đồng vào ngân sách nhà nước. Số ngày chậm nộp là 01 ngày (ngày 21/11/2014).

Ví dụ: Cơ quan thuế thực hiện thanh tra thuế đối với người nộp thuế E. Ngày 15/4/2014, cơ quan thuế ban hành quyết định xử lý vi phạm pháp luật về thuế với số tiền là 500 triệu đồng, thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày 14/5/2014. Ngày 30/5/2014, người nộp thuế nộp 500 triệu đồng vào ngân sách nhà nước. Số ngày chậm nộp là 16 ngày, được tính từ ngày 15/5/2014 đến ngày 30/5/2014.

d) Trường hợp cơ quan thuế thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên để thu hồi nợ thuế thì người nộp thuế bị tính tiền chậm nộp từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn nộp thuế; thời hạn gia hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế; thời hạn nộp thuế ghi trong thông báo hoặc quyết định xử lý của cơ quan thuế hoặc cơ quan có thẩm quyền đến ngày cơ quan thuế lập biên bản kê biên tài sản.

Trường hợp đã chuyển giao quyền sở hữu tài sản bán đấu giá cho người mua theo quy định của pháp luật mà cơ quan chức năng có thẩm quyền bán đấu giá tài sản không nộp tiền thuế vào NSNN thì cơ quan chức năng có thẩm quyền bán đấu giá tài sản phải nộp tiền chậm nộp kể từ ngày tiếp theo ngày chuyển giao quyền sở hữu tài sản đến ngày nộp thuế vào NSNN.

Không tính chậm nộp trong thời gian thực hiện các thủ tục đấu giá theo quy định của pháp luật.

e) Trường hợp người nộp thuế khai thiếu tiền thuế của kỳ thuế phát sinh trước ngày 01/7/2016 nhưng sau ngày 01/7/2016, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện qua thanh tra, kiểm tra hoặc người nộp thuế tự phát hiện thì áp dụng tiền chậm nộp theo mức 0,05%/ngày (hoặc mức phù hợp quy định của văn bản pháp luật từng thời kỳ) từ ngày phải nộp theo quy định của pháp luật đến hết ngày 30/6/2016 và theo mức 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế khai thiếu từ ngày 01/7/2016 đến ngày người nộp thuế nộp vào ngân sách nhà nước.”

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến chính sách hỗ trợ của các ngân hàng trong bối cảnh dịch bệnh COVID hoặc các vấn đề pháp lý khác liên quan Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại.

>> Xem thêm:  Lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng có được vượt quá 150 % không ? Thế nào là cho vay nặng lãi ?

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê ​

>> Xem thêm:  Cách hạch toán lãi vay ngân hàng của công ty như thế nào ? Trả trước tiền vay có tính lãi không ?