1. Đơn đề nghị giải quyết tranh chấp hợp đồng lao động

Luật Minh Khuê giới thiệu mẫu đơn giải quyết tranh chấp hợp đồng lao động, mọi vướng mắc liên quan vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900.6162.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

                                                                Hà Nội, ngày …. tháng …năm 20…

ĐƠN ĐỀ NGHỊ

(V/v Giải quyết tranh chấp hợp đồng lao động)

Kính gửi: Lãnh đạo Vụ …………………………………............………

                Công đoàn …………………………………...........…………

Tên tôi là:  …………………………..            Ngày sinh: …../…../19….

Chứng minh nhân dân số: ……………………………………………….

Ngày cấp:  …./…./20….               Nơi cấp: Công an …………………...

Hộ khẩu thường trú: ……………………………………………………..

Chỗ ở hiện tại: ………………………………..…………………………

Hiện tôi đang công tác tại …………… trực thuộc …………. theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn số .................

Ngày …./…./20….., đồng chí …………….., Chức vụ:……….. yêu cầu tôi nghỉ ở nhà với những lý do sau đây:

Thứ nhất là cần vị trí …………….. cho nhân viên mới;

Thứ hai là đảm bảo việc giữ an toàn bảo mật các thông tin ………….. của………trực thuộc …………………. Toàn bộ yêu cầu này được đồng chí ……………………. trình bày bằng lời nói, không có văn bản cụ thể.

Thực hiện đúng theo yêu cầu của đồng chí ……………., tôi đã gửi trả lại chìa khóa phòng làm việc và bàn làm việc. Trước khi ra về, đồng chí ……………….. – Chức vụ:……………cán bộ và đồng chí ……………. – Chức vụ ……………… có hứa bằng miệng sẽ đưa thông báo nghỉ việc cho tôi vào ngày ….../…./20…..

Đến nay là ngày …. tháng ….. năm 20….., tôi vẫn chưa nhận được thông báo bằng văn bản nào về sự việc ngày ….. tháng ….. năm 20…. nêu trên.

Vậy, tôi làm đơn này kính đề nghị Quý cơ quan xét duyệt cho tôi một số vấn đề sau:

- Thứ nhất: Tạo điều kiện cho tôi được tiếp tục trở lại công tác bình thường.

- Thứ hai: Trường hợp vì lý do nào đó, tôi không được tiếp tục công tác tại …………….. trực thuộc ……………… nữa, đề nghị Quý cơ quan thông báo cho tôi bằng văn bản về quyết định nghỉ việc theo đúng trình tự thủ tục đã được quy định của ……………….trực thuộc …………… và Bộ luật Lao động năm 2019

- Thứ ba: Trường hợp tôi có quyết định nghỉ việc, đề nghị Quý cơ quan giải quyết tất cả các chế độ về tiền lương, tiền thưởng theo đúng quy định của Bộ luật Lao động năm 2013 và quy định của ………….. trực thuộc …………………………..

Tôi cam kết toàn bộ nội dung đã trình bày trên là hoàn toàn đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm về những điều trình bày trên.

Kính mong được Quý cơ quan xem xét và giải quyết. Xin chân thành cảm ơn.        

                                                                                    Người viết đơn

 

2. Khái niệm và các loại tranh chấp lao động

*BLLĐ 2019 quy định: Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện NLĐ với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động. Các loại tranh chấp lao động bao gồm:

- Tranh chấp lao động cá nhân giữa NLĐ với người sử dụng lao động; giữa NLĐ với doanh nghiệp, tổ chức đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; giữa NLĐ thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại;

- Tranh chấp lao động tập thể về quyền hoặc về lợi ích giữa một hay nhiều tổ chức đại diện NLĐ với người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của người sử dụng lao động.

*BLLĐ 2019 quy định: Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động;

Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa NLĐ với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động.

 

3. Số lượng trọng tài viên lao động của Hội đồng trọng tài lao động

Số lượng trọng tài viên lao động của Hội đồng trọng tài lao động ít nhất là 15 người

Cụ thể, theo quy định tại Khoản 2 Điều 185 BLLĐ 2019 thì số lượng trọng tài viên lao động của Hội đồng trọng tài lao động do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, ít nhất là 15 người, bao gồm số lượng ngang nhau do các bên đề cử, cụ thể như sau:

- Tối thiểu 05 thành viên do cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề cử, trong đó có Chủ tịch Hội đồng là đại diện lãnh đạo và thư ký Hội đồng là công chức của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

- Tối thiểu 05 thành viên do công đoàn cấp tỉnh đề cử;

- Tối thiểu 05 thành viên do các tổ chức đại diện của người sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh thống nhất đề cử.

 

4. Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của Hội đồng trọng tài lao động

Trường hợp không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải hoặc trường hợp hết thời hạn hòa giải theo quy định mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải hoặc trường hợp hòa giải không thành theo quy định thì các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết.

Trong đó, việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của Hội đồng trọng tài lao động được quy định như sau (quy định mới):

- Trên cơ sở đồng thuận, các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp theo quy định. Khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp, các bên không được đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường hợp tại điểm (4) sau đây.

- Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp theo quy định tại điểm (1), Ban trọng tài lao động phải được thành lập để giải quyết tranh chấp.

- Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Ban trọng tài lao động được thành lập, Ban trọng tài lao động phải ra quyết định về việc giải quyết tranh chấp và gửi cho các bên tranh chấp.

- Trường hợp hết thời hạn quy định tại điểm (2) mà Ban trọng tài lao động không được thành lập hoặc hết thời hạn quy định tại điểm (3) mà Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Trường hợp một trong các bên không thi hành quyết định giải quyết tranh chấp của Ban trọng tài lao động thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

 

5. Các phương thức giải quyết tranh chấp lao động

Tranh chấp giữa cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động

Giải quyết tranh chấp thông qua Hòa giải viên lao động

Các tranh chấp lao động cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

  • Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
  • Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
  • Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
  • Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;
  • Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
  • Giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.

Các trường hợp không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải nêu trên hoặc trường hợp hết thời hạn hòa giải quy định mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải hoặc trường hợp hòa giải không thành theo quy định tại thì các bên tranh chấp có quyền lựa chọn một trong các phương thức sau để giải quyết tranh chấp:

  • Yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật Lao động;
  • Yêu cầu Tòa án giải quyết.

Giải quyết tranh chấp thông qua Hội đồng trọng tài lao động

Trên cơ sở đồng thuận, các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp trong trường hợp không bắt buộc phải thông qua Hòa giải viên thì các bên có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp. Khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp, các bên không được đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường hợpsau 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp Ban trọng tài lao động không được thành lập hoặc Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp một trong các bên không thi hành quyết định giải quyết tranh chấp của Ban trọng tài lao động thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân

  • Các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp trong trường hợp không bắt buộc phải thông qua Hòa giải viên.
  • Trường hợp một trong các bên không thi hành quyết định giải quyết tranh chấp của Ban trọng tài lao động thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

  • Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
  • Thời hiệu yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 09 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
  • Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
  • Trường hợp người yêu cầu chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do khác theo quy định của pháp luật mà không thể yêu cầu đúng thời hạn quy định tại nêu trên thì thời gian có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do đó không tính vào thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Xem thêm: Có ủy quyền khởi kiện tranh chấp hợp đồng lao động được không?