1. Mẫu đơn xin sao chụp hồ sơ vụ án hình sự

Công ty luật Minh Khuê cung cấp mẫu đơn xin sao chụp hồ sơ vụ án hình sự để quý khách hàng tham khảo và áp dụng:

>> Tải ngay: Mẫu đơn xin sao chụp hồ sơ vụ án

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


ĐƠN XIN SAO CHỤP HỒ SƠ VỤ ÁN

Kính gửi: Tòa án nhân dân huyện...........................

Tôi là ................................., Luật sư Công ty Luật TNHH Minh Khuê, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội.

Theo yêu cầu của gia đình em ....là người tham gia trong vụ án t...xảy ra trên địa bàn huyện ..., tôi được mời tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết toàn bộ vụ án để bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích cho em ....

Tôi làm đơn này, kính đề nghị Tòa án Nhân dân huyện ....cho tôi sao chụp toàn bộ hồ sơ vụ án [một phần thì liệt kê các tài liệu cần thiết] để tôi có điều kiện nghiên cứu hồ sơ vụ án, thực hiện trách nhiệm của mình đúng theo quy định pháp luật về hành nghề Luật sư.

Tôi xin cam đoan chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật về việc sao chụp hồ sơ vụ án.

Tôi xin trân trọng cảm ơn./.


Hà Nội, ngày…….tháng…….năm 20...
Người làm đơn

2. Tư vấn thủ tục tố tụng trong vụ án hình sự ?

Kính chào Luật Minh Khuê: Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Trong tòa án, tòa sẽ giải quyết như thế nào khi tòa hỏi mà bị cáo không trả lời gì cả? Mà bị cáo là người hoàn toàn bình thường, khi mà những chứng cứ tại tòa đều không có lợi cho bị cáo. Và luật sư của bị cáo sẽ có những quyền gì tại tòa?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê. Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư!

Người gửi: Lâm Phong

Tư vấn thủ tục tranh tụng trong vụ án hình sự ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Khoản 3 Điều 309 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có quy định như sau:

Điều 309. Hỏi bị cáo

...3. Nếu bị cáo không trả lời các câu hỏi thì Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự tiếp tục hỏi những người khác và xem xét vật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ án.

Khi được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo được đặt câu hỏi với bị cáo khác về các vấn đề có liên quan đến bị cáo.

Như vậy, bị cáo có thể không trả lời khi được hỏi.

Về quyền của luật sư hay người bào chữa tại Tòa được quy định tại khoản 1 Điều 73 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 như sau:

Điều 73. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa

1. Người bào chữa có quyền:

a) Gặp, hỏi người bị buộc tội;

b) Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can;

c) Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;

d) Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;

đ) Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;

e) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;

g) Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

h) Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

i) Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

k) Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản;

l) Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra;

m) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa;

n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

o) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật này.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn, xin đảm bảo tất cả những thông tin tư vấn hoàn toàn đúng theo tinh thần pháp luật. Chúng tôi rất mong nhận được hồi âm của bạn về vấn đề này và luôn sẵn sàng trao đổi những thông tin cần thiết. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty tư vấn của chúng tôi. Trân trọng./

3. Quyết định đình chỉ vụ án khi đương sự có đơn bãi nại của người bị hại?

Mong luật sư tư vấn cho tôi: Tôi bị X đánh, chém dẫn đến thương tích khá nặng, tôi đã trình báo Công an và Công an cũng đã vào cuộc điều tra. Tuy nhiên sau đó, X và gia đình đến thương lượng và chủ động bồi thường cho tôi một khoản tiền mong tôi không truy xét nữa.

Tôi và X đã thỏa thuận được với nhau và tôi đồng ý, sau đó tôi làm đơn yêu cầu đình chỉ vụ án. Nhưng hôm sau, cơ quan Công an vẫn gọi và yêu cầu tôi phải đi giám định vết thương, vậy tôi có bắt buộc phải đi không?

Quyết định đình chỉ vụ án khi đương sự có đơn?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015, các trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại:

Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại Khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138,139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ Luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Cũng theo quy định tại Bộ Luật tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp ( Điều 230)

a) Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự;

b) Đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.

Như vậy, Cơ quan điều tra chỉ ra quyết định đình chỉ vụ án khi người yếu cầu rút đơn đối với tội phạm quy định tại Khoản 1 Điều 134: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Do đó nếu tội phạm thuộc các tội quy định từ Khoản 2 Điều 134 trở đi thì mặc dù người yêu cầu rút đơn thì vụ án cũng không bị đình chỉ do không thuộc trường hợp đình chỉ vụ án đối với vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại.

Theo thông tin bạn cung cấp, thì trường hợp này bạn phải tiến hành giám định vết thương theo yêu cầu của Cơ quan Công an để xác dịnh tỷ lệ tổn thương cơ thể, căn cứ vào đó để xác định tội phạm. Nếu tội phạm thuộc Khoản 1 ĐIều 134 Bộ Luật hình sự thì bạn có thể rút đơn, và cơ quan điều tra sẽ ra quyết định đình chỉ vụ án; nếu tội phạm thuộc các khoản từ khoản 2 trở đi tại Điều 134 vụ án vẫn tiếp tục được giải quyết mà không bị đình chỉ. ( Bạn có thể xem chi tiết nội dung Điều 134 trong Luật sửa đổi Bộ Luật hình sự 2017)

4. Hỏi cung bị can là gì? Pháp luật quy định như thế nào về việc hỏi cung bị can?

Thưa luật sư, tôi có một thắc mắc như sau: Trong các vụ án hình sự, để phục vụ việc đưa ra kết luận điều tra thì cần lấy lời khai của bị can và những người có liên quan, vậy việc hỏi cung bị can hiện nay được quy định như thế nào?

Trả lời:

Điều 182 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về hỏi cung bị can như sau:

Điều 183. Hỏi cung bị can

1. Việc hỏi cung bị can do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can. Có thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó. Trước khi hỏi cung bị can, Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung. Khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên tham gia việc hỏi cung bị can.

2. Trước khi tiến hành hỏi cung lần đầu, Điều tra viên phải giải thích cho bị can biết rõ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 60 của Bộ luật này. Việc này phải ghi vào biên bản.

Trường hợp vụ án có nhiều bị can thì hỏi riêng từng người và không để họ tiếp xúc với nhau. Có thể cho bị can viết bản tự khai của mình.

3. Không hỏi cung bị can vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.

4. Kiểm sát viên hỏi cung bị can trong trường hợp bị can kêu oan, khiếu nại hoạt động điều tra hoặc có căn cứ xác định việc điều tra vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp khác khi xét thấy cần thiết. Việc Kiểm sát viên hỏi cung bị can được tiến hành theo quy định tại Điều này.

5. Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên bức cung, dùng nhục hình đối với bị can thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.

6. Việc hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.

Việc hỏi cung bị can tại địa điểm khác được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh theo yêu cầu của bị can hoặc của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Hỏi cung bị can là hoạt động điều tra theo tố tụng (trong khoa học điều tra hình sự gọi là biện pháp điều tra), do Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định.

Hỏi cung bị can có ý nghĩa lớn trong việc điều tra, xác định sự thật khách quan của vụ án. Do đó, về thời gian, việc hỏi cung bị can do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can. Về địa điểm, có thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó.

Như vậy, theo quy định của điêu luật đang bình luận, Điều tra viên được quyền hỏi cung bị can trước khi có quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát.

Sự có mặt của kiểm sát viên khi hỏi cung

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có quy định: Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung.

Khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên tham gia việc hỏi cung bị can. Quy định này, một mặt vừa đảm bảo hoạt động hỏi cung bị can được kiểm sát chặt chẽ bởi Viện kiểm sát, mặt khác bảo đảm quyên bào chữa của bị can.

Sự có mặt của kiểm sát viên và người bào chữa sẽ tránh được những vi phạm quyền của bị can.

Bảo đảm quyền lợi của bị can

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải báo trước một thời gian hợp lí cho người bào chữa về thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động tố tụng (bao gồm hoạt động hỏi cung bị can) mà họ có quyền tham gia.

Điều luật cho thấy quan điểm của nhà làm luật hướng đến bảo đảm quyền của bị can. Thời gian hợp lí nên hiểu là khoảng thời gian nhằm đảm bảo cho người bào chữa cố thể thu xếp, chuẩn bị tham gia hoạt động hỏi cung bị can, bảo vệ các quyền và lợi ích pháp lí, trợ giúp pháp lí tốt nhất cho bị can.

Quy định này sẽ phát huy tác dụng, thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự của Nhà nước Việt Nam khi được thi hành đúng đắn, công tâm.

Các nguyên tắc và thủ tục

Trước khi tiến hành hỏi cung lần đầu, Điều tra viên phải giải thích cho bị can biết rõ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 60 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Việc này phải ghi vào biên bản.

Trường hợp vụ án có nhiều bị can thì hỏi riêng từng người và không để họ tiếp xúc với nhau. Có thể cho bị can viết bản tự khai của mình.

Không hỏi cung bị cạn vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản. Đêm được tính từ 22 giờ đên 06 giờ sáng ngày hôm sau.

Trường hợp Kiểm sát viên hỏi cung bị can

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định cụ thể hơn những trường hợp Kiểm sát viên hỏi cung bị can. Việc Kiểm sát viên hỏi cung bị can được tiến hành theo quy định tại điều luật đang bình luận. Kiểm sát viên hỏi cung bị can trong các trường hợp sau:

- Bị can kêu oan, khiếu nại hoạt động điều tra;

- Có căn cứ xác định việc điều ưa vi phạm pháp luật

- Trong trường hợp khác khi xét thấy cần thiết.

5. Việc ghi lời khai khi hỏi cung bị can được quy định như thế nào?7

Thưa luật sư, tôi có thắc mắc như sau: Trong quá trình hỏi cung bị can thì việc ghi chép lời khai của bị can được quy định như thế nào? Bị can có quyền kiểm tra lại nội dung trong biên bản hỏi cung không?

Trả lời:

Biên bản hỏi cung bị can là nguồn chứng cứ giúp chứng minh vụ án khách quan, toàn diện và đầy đủ. Điều luật quy định mỗi lần hỏi cung bị can đều phải lập biên bản.

Biên bản hỏi cung là một trong các biên bản điều tra. Vì vậy, biên bản hỏi cung bị can được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 phải ghi đầy đủ lời trình bày của bị can, các câu hỏi và câu trả lời.

Nghiêm cấm Điều tra viên, Cán bộ điều fra tự mình thêm, bớt hoặc sửa chữa lời khai của bị can.

Mỗi nội dung trong biên bản hỏi cung đều vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến các tình tiết của vụ án, ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án.

Do đó, việc hỏi cung, ghi và thể hiện nội dung cuộc hỏi cung trong biên bản cần phải tuyệt đổi chính xác, khách quan và công tâm.

Sau khi hỏi cung, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải đọc biên bàn cho bị can nghe hoặc để bị can tự đọc.

Điều 184 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có quy định về Biên bản hỏi cung bị can như sau:

Điều 184. Biên bản hỏi cung bị can

1. Mỗi lần hỏi cung bị can đều phải lập biên bản.

Biên bản hỏi cung bị can được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này; phải ghi đầy đủ lời trình bày của bị can, các câu hỏi và câu trả lời. Nghiêm cấm Điều tra viên, Cán bộ điều tra tự mình thêm, bớt hoặc sửa chữa lời khai của bị can.

2. Sau khi hỏi cung, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải đọc biên bản cho bị can nghe hoặc để bị can tự đọc. Trường hợp bổ sung, sửa chữa biên bản thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra và bị can cùng ký xác nhận. Nếu biên bản có nhiều trang thì bị can ký vào từng trang biên bản. Trường hợp bị can viết bản tự khai thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra và bị can cùng ký xác nhận vào bản tự khai đó.

3. Trường hợp hỏi cung bị can có người phiên dịch thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch, đồng thời giải thích cho bị can biết quyền yêu cầu thay đổi người phiên dịch; người phiên dịch phải ký vào từng trang của biên bản hỏi cung.

Trường hợp hỏi cung bị can có mặt người bào chữa, người đại diện của bị can thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích cho những người này biết quyền và nghĩa vụ của họ trong khi hỏi cung bị can. Bị can, người bào chữa, người đại diện cùng ký vào biên bản hỏi cung. Trường hợp người bào chữa được hỏi bị can thì biên bản phải ghi đầy đủ câu hỏi của người bào chữa và trả lời của bị can.

4. Trường hợp Kiểm sát viên hỏi cung bị can thì biên bản được thực hiện theo quy định của Điều này. Biên bản hỏi cung bị can được chuyển ngay cho Điều tra viên để đưa vào hồ sơ vụ án.

Theo quy định nêu trên, sau khi hỏi cung, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải đọc biên bản cho bị can nghe hoặc để bị can tự đọc. Trường hợp bổ sung, sửa chữa biên bản thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra và bị can cùng ký xác nhận. Nếu biên bản có nhiều trang thì bị can ký vào từng trang biên bản. Trường hợp bị can viết bản tự khai thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra và bị can cùng ký xác nhận vào bản tự khai đó.bị can hoàn toàn có quyền kiểm tra lại nội dung trong biên bản hỏi cung

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

THAM KHẢO DỊCH VỤ PHÁP LUẬT LIÊN QUAN:

1. Dịch vụ luật sư, tư vấn pháp luật;

2. Luật sư tư vấn pháp luật hình sự;

3. Dịch vụ luật sư bào chữa tại tòa án;

4. Luật sư tranh tụng các vụ án hình sự;

5. Luật sư tư vấn thu hồi nợ cho doanh nghiệp;

6. Luật sư tư vấn, tranh tụng trong lĩnh vực hình sự;