1. Quyết định thành lập Ban quản lý chương trình, dự án ODA đầu tư là gì?
Nguồn vốn ODA là nguồn tiền mà Chính phủ, các cơ quan chính thức của nước hoặc của tổ chức phi chính phủ, quốc tế cho các nước đang phát triển và kém phát triển vay để tiến hành phát triển kinh tế - xã hội. Vốn hợp tác phát triển chính thức (ODA) là viện trợ không hoàn lại hoặc hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi (cho vay lãi suất thấp) của chính phủ, cơ quan thuộc Liên hợp quốc, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tài chính quốc tế (IMF, WB, ADB), được gọi chung là các đối tác nước ngoài dành cho chính phủ và nhân dân các nước nhận viện trợ.
Theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 114/2021/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài thì Ban quản lý chương trình, dự án sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi (sau đây gọi là “Ban quản lý dự án”) là một tổ chức được thành lập với nhiệm vụ giúp cơ quan chủ quản, chủ dự án quản lý thực hiện một hoặc một số chương trình, dự án.
Do đó, mẫu Quyết định thành lập Ban quản lý chương trình, dự án ODA đầu tư là một văn bản tài liệu được dùng khi tiến hành thành lập Ban quản lý dự án xây dựng, công trình hay một chương trình đầu tư.
2. Mẫu Quyết định thành lập Ban quản lý chương trình, dự án ODA đầu tư
Mẫu Quyết định thành lập Ban quản lý chương trình, dự án ODA đầu tư được quy định tại Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định 114/2021/NĐ-CP. Cụ thể như sau:
QUYẾT ĐỊNH Thành lập Ban Quản lý dự án (Tên chương trình, dự án) (TÊN CƠ QUAN CHỦ QUẢN HOẶC CHỦ DỰ ÁN) Căn cứ Nghị định số .../2021/NĐ-CP ngày ... tháng ... năm 2021 về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài; Căn cứ (tên văn bản) số ... ngày ... tháng ... năm ... quyết định về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của (Cơ quan chủ quản); Căn cứ Quyết định số... ngày ... tháng ... năm ... của (Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt văn kiện chương trình, dự án) hoặc Quyết định số ngày ... tháng ... năm ... của (Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư đối với chương trình, dự án) (trong trường hợp thực hiện hoạt động trước về việc thành lập trước Ban Quản lý dự án) (Tên Chương trình, dự án); Căn cứ Quyết định số ... ngày ... tháng ... năm ... của (Cơ quan có thẩm quyền) về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của (Chủ dự án); Theo đề nghị của (Thủ trưởng cơ quan đơn vị được giao thực hiện chương trình, dự án với vai trò Ban Quản lý dự án) về việc thành lập Ban Quản lý dự án. QUYẾT ĐỊNH: Điều 1. Thành lập Ban Quản lý dự án (Tên chương trình, dự án và viện trợ phi dự án bằng tiếng Việt và tiếng Anh) do (tên nhà tài trợ) tài trợ. Chương trình, dự án và viện trợ phi dự án có tổng vốn (vốn ODA, vốn vay ưu đãi và vốn đối ứng), thực hiện trong thời gian từ ngày ... tháng ... năm ... đến ngày ... tháng ... năm ... Điều 2. Ban Quản lý dự án có nhiệm vụ quản lý thực hiện chương trình, dự án và viện trợ theo đúng mục tiêu, tiến độ, chất lượng và nguồn lực nêu trong văn kiện chương trình, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt và Điều ước quốc tế/thỏa thuận quốc tế cụ thể về ODA và vốn vay ưu đãi đối với chương trình, dự án, viện trợ phi dự án. Điều 3. Ban Quản lý dự án được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng thương mại, được phép sử dụng con dấu riêng (hoặc sử dụng con dấu của cơ quan chủ quản hoặc Chủ dự án) để phục vụ cho việc chuẩn bị, chuẩn bị thực hiện án (trong khuôn khổ các hoạt động thực hiện trước) và thực hiện chương trình, dự án. Điều 4. Bổ nhiệm Ông/ Bà ……… là Giám đốc Ban Quản lý dự án. Điều 5. Bổ nhiệm Ông/ Bà ……… là Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án (nếu có). Điều 6. Bổ nhiệm Ông/ Bà ……….là Kế toán trưởng hoặc Cán bộ phụ trách kế toán của chương trình, dự án. Điều 7. Giám đốc Ban Quản lý dự án có trách nhiệm xây dựng Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Quản lý dự án (Tên chương trình, dự án) trình (Cơ quan chủ quản hoặc Chủ dự án) phê duyệt trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ khi Quyết định này có hiệu lực. Điều 8. Thời hạn hoạt động của Ban Quản lý dự án. Ban Quản lý dự án giải thể theo Quyết định của (Cơ quan chủ quản hoặc Chủ dự án) kể từ ngày báo cáo kết thúc và báo cáo quyết toán chương trình, dự án được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và việc xử lý tài sản của Ban Quản lý dự án đã hoàn thành. Điều 9. Quyết định này có hiệu lực từ ngày ký ban hành. Giám đốc Ban Quản lý dự án, Thủ trưởng các đơn vị liên quan có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
|
3. Ưu điểm và nhược điểm của ODA
3.1. Về ưu điểm của ODA
- Thứ nhất, nguồn ODA giúp các nước được hỗ trợ có thể phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển giáo dục, giúp cho kinh tế phát triển theo quy định với mức lãi suất thấp (dưới 3%, trung bình từ 1-2%/năm).
- Thứ hai, thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn nợ gốc tương đối dài (từ 25 năm đến 40 năm mới phải hoàn trả và thời gian ân hạn nợ gốc là từ 8 năm đến 10 năm) cũng là một ưu điểm với các lợi thế nhất định.
- Thứ ba, trong nguồn vốn ODA luôn có một phần là viện trợ không hoàn lại, thấp nhất là 25% của tổng số vốn ODA.
3.2. Nhược điểm của ODA
Bên cạnh những ưu điểm thì ODA vẫn có những nhược điểm như sau:
- Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lược như mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu về an ninh - quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị, … Vì vậy, họ đều có chính sách riêng hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợi thế (những mục tiêu ưu tiên này thay đổi cùng với tình hình phát triển kinh tế - chính trị - xã hội trong nước, khu vực và trên thế giới).
- Về kinh tế, các nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hóa của nước tài trợ. Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hóa mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao.
- Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo. Ví như các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn 90% (bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họ quá cao so với chi phí thực tế cần thuê chuyên gia như vậy trên thị trường lao động thế giới).
- Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ. Cụ thể, nước cung cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hóa, dịch vụ do họ sản xuất.
- Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng thông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thỏa thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia.
Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án, … khiến cho hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp, có thể đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần.
Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: Tư vấn pháp luật qua email để được giải đáp. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.