- 1. Mẫu thông báo áp dụng biện pháp bảo quản TS của người bị tạm giam (67-BH) mới nhất
- 2. Tạm giam và mục đích của tạm giam
- 2.1 Mục đích của việc tạm giam
- 2.2 Đối tượng áp dụng
- 2.3 Thủ tục tạm giam
- 2.4 Chế độ tạm giam
- 3. Bảo quản tài sản của người bị tạm giữ, tạm giam
- 4. Quy định pháp luật về bảo đảm quyền con người trong việc tạm giữ, tạm giam
1. Mẫu thông báo áp dụng biện pháp bảo quản TS của người bị tạm giam (67-BH) mới nhất
Tải ngay: Mẫu thông báo áp dụng biện pháp bảo quản TS của người bị tạm giam
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
_________
…………., ngày ……… tháng ………. năm…………..
Số:…………….
THÔNG BÁO
Về việc áp dụng biện pháp bảo quản tài sản của người bị tạm giữ/tạm giam
Căn cứ Điều 36 và Điều 120 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Căn cứ Quyết định/Lệnh(1) …….. số: ………………. ngày ……….. tháng ………. năm…………….. của Cơ quan……………….. đối với:
Họ tên: ……….. Giới tính:
Tên gọi khác:
Sinh ngày …… tháng ……… năm ……….. tại:
Quốc tịch: …….; Dân tộc: ……..; Tôn giáo:
Nghề nghiệp:
Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu:
cấp ngày………… tháng ………… năm ………………. Nơi cấp:
Nơi cư trú:
Ngày…………..tháng…………….năm…………..Cơ quan
đã lập biên bản về việc áp dụng biện pháp bảo quản tài sản của:
và giao tài sản cho ông/bà(2):………. có trách nhiệm bảo quản tài sản.
Những tài sản áp dụng biện pháp bảo quản gồm(3):
(1) Quyết định tạm giữ/Lệnh tạm giam;
(2) Ghi rõ người được giao bảo quản tài sản;
(3) Ghi rõ số lượng, loại, đặc điểm, tình trạng tài sản cần bảo quản
Cơ quan
thông báo cho người bị tạm giữ/tạm giam: biết.
Nơi nhận:
– Người bị tạm giữ/tạm giam;
– ………
– Hồ sơ 02 bản.
……..
Thông báo này đã được giao cho người bị tạm giữ, tạm giam một bản vào hồi ….. giờ ….. ngày …. tháng …. năm ………….
NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ/TẠM GIAM
(Ký, ghi rõ họ tên)
2. Tạm giam và mục đích của tạm giam
Các biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cần thiết, là một chế định quan trọng trong tố tụng hình sự. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, pháp luật tố tụng hình sự của Nhà nước đã quy định nhiều biện pháp cưỡng chế khác nhau. Những biện pháp ngăn chặn là một trong những nhóm của biện pháp cưỡng chế. Những biện pháp ngăn chặn mang tính cưỡng chế nghiêm khắc để kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, ngăn ngừa người phạm tội, bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có những hành vi gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử cũng như đảm bảo thi hành án. Những biện pháp ngăn chặn khi được áp dụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác.
Tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn có tính chất nghiêm khắc trong các biện pháp ngăn chặn của tố tụng hình sự. Người bị áp dụng biện pháp tạm giam bị cách li khỏi xã hội trong một khoảng thời gian nhất định, bị hạn chế một số quyền của công dân.
2.1 Mục đích của việc tạm giam
Tạm giam được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong các giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự. Vì vậy, ngoài mục đích chung thống nhất là ngăn chặn không để bị can, bị cáo có điều kiện tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án thì ở mỗi giai đoạn nhất định, việc áp dụng biện pháp này còn có mục đích riêng nhằm đảm bảo thực hiện tốt chức năng tố tụng của cơ quan áp dụng. Chẳng hạn, việc tạm giam đối với bị can trong giai đoạn điều tra tạo điều kiện thuận lợi cho Cơ quan điều tra có thể tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ từ lời khai của bị can vào bất cứ khi nào nếu thấy cần thiết mà không phải mất thời gian triệu tập nhiều lần, đồng thời cũng giúp cho việc quản lý, giám sát bị can được chặt chẽ; việc tạm giam bị cáo sau khi tuyên án nhằm đảm bảo cho việc thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật được thuận lợi.
2.2 Đối tượng áp dụng
Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam chỉ có thể là bị can, bị cáo. Những người không phải bị can, bị cáo thì không bị áp dụng biện pháp này. Bộ luật TTHS quy định các trường hợp bị tạm giam như sau:
Trường hợp thứ nhất: Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng.
Đây là trường hợp bị can, bị cáo phạm tội mà theo quy định của BLHS thì mức cao nhất của khung hình phạt áp dụng với tội ấy là trên 15 năm tù, tù chugn thân hoặc tử hình (tội phạm đặc biệt ngiêm trọng) hoặc mức cao nhất của khung hình phạt là đến 15 năm tù (tội phạm rất nghiêm trọng). Việc áp dụng biện pháp tạm giam trong trường hợp này cần hai điều kiện:
•Người thực hiện tội phạm là người đã bị khởi tố bị can hoặc đã bị Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử với tư cách là bị cáo.
•Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng.
Trường hợp thứ hai: Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
Để tạm giam trong trường hợp này cần có ba điều kiện:
Người thực hiện tội phạm là bị can, bị cáo;
Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù từ trên hai năm. Trong một điều luật có nhiều khoản thì phạm tội thuộc khoản có mức hình phạt trên hai năm tù có thể bị tạm giam, phạm tội thuộc khoản có mức hình phạt tù dưới hai năm thì không được tạm giam.
Có căn cứ để cho rằng người phạm tội có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố. xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Để xác định điều kiện này phải căn cứ vào nhân thân bị can, bị cáo, thái độ của họ sau khi phạm tội hoặc những vi phạm nghĩa vụ của bị can, bị cáo khi bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc.
Khi phạm tội thuộc những trường hợp trên, bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam. Tuy vậy, đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang trong thời kì nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng thì không được tạm giam mà phải áp dụng các biện pháp khác, trừ những trường hợp sau đây:
• Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã;
• Bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử;
• Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.
2.3 Thủ tục tạm giam
Việc tạm giam phải có lệnh viết của người có thẩm quyền. Lệnh tạm giam phải ghi rõ ngày, tháng, năm; họ tên chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị tạm giam; lí do tạm giam, thời hạn tạm giam và giao cho người bị tạm giam một bản.
Sau khi ra lệnh tạm giam, cơ quan ra lệnh tạm giam phải kiểm tra căn cước của người bị tạm giam nhằm xác định đúng đối tượng cần tạm giam, tránh trường hợp nhầm lẫn. Đồng thời cơ quan đã ra lệnh tạm giam phải thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam và cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam cư trú hoặc làm việc biết để gia đình họ cũng như các cơ quan, tổ chức biết được sự việc và không phải tiến hành những thủ tục tìm kiếm không cần thiết, gây tốn kém
2.4 Chế độ tạm giam
Tạm giam không phải là hình phạt mà là những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự. Việc áp dụng biện pháp tạm giam không phải nhằm trừng trị người phạm tội mà là để ngăn chặn tội phạm và hành vi trốn tránh pháp luật, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án của người phạm tội. Vì vậy chế độ tạm giam khác với chế độ đối với người đang chấp hành hình phạt tù. Người bị tạm giam chỉ chấp hành các quy định của Chính phủ về chế độ đi lại, sinh hoạt, nhận quà, liên hệ với gia đình trong thời gian bị tạm giam.
3. Bảo quản tài sản của người bị tạm giữ, tạm giam
Điều 120 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có quy định cụ thể Việc chăm nom người thân thích và bảo quản tài sản của người bị tạm giữ, tạm giam theo quy định tại Điều 120 cụ thể Trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam có người thân thích là người tàn tật, già yếu, có nhược điểm về tâm thần mà không có người chăm sóc thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh hoặc quyết định tạm giam giao người đó cho người thân thích khác chăm nom; trường hợp không có người thân thích thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh hoặc quyết định tạm giam giao những người đó cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú chăm nom. Việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em là con của người bị tạm giữ, tạm giam thực hiện theo quy định của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam.Trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam có nhà ở hoặc tài sản khác mà không có người bảo quản thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh hoặc quyết định tạm giam phải áp dụng những biện pháp bảo quản. Cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh hoặc quyết định tạm giam thông báo cho người bị tạm giữ, tạm giam biết việc chăm nom, chăm sóc người thân thích và bảo quản tài sản của họ. Việc thông báo được lập văn bản và đưa vào hồ sơ vụ án.
4. Quy định pháp luật về bảo đảm quyền con người trong việc tạm giữ, tạm giam
Tạm giữ, tạm giam người là các biện pháp ngăn chặn nhằm hạn chế một số quyền con người, quyền công dân của người bị tạm giữ, tạm giam. Mục đích của các biện pháp này là để đảm bảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong công tác đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, đảm bảo trật tự pháp luật. Khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn buộc phải nắm vững nội dung, thẩm quyền, thủ tục bắt, tạm giữ, tạm giam sẽ bảo đảm cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng áp dụng đúng pháp luật, tránh vi phạm các quy định pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền công dân khi thực thi công vụ.
Kế thừa quy định của Hiến pháp năm 1992; Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm,…”; “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang…”.
Khoản 5 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 nhấn mạnh “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự…”.
Thực thi quy định của Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định “… việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam người phải theo quy định của Bộ luật này. Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người”. Bên cạnh đó, người bị tạm giữ, tạm giam “có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”. Ngoài ra, để đảm bảo tính nghiêm minh pháp luật “… cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về hành vi, quyết định của mình. Người vi phạm pháp luật trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật”. Đồng thời, quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục thực hiện việc tạm giữ, tạm giam; thời hạn tạm giữ, tạm giam; thẩm quyền quyết định, thay đổi biện pháp tạm giữ, tạm giam.
Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Khuê về "Mẫu thông báo áp dụng biện pháp bảo quản TS của người bị tạm giam (67-BH) mới nhất" trường hợp quý khách hàng còn điều gì vướng mắc vui lòng gọi tổng đài 19006162 hoặc liên hệ qua email lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ giải đáp thắc mắc. Trân trọng!