- 1. Khái niệm tư pháp quốc tế theo pháp luật Việt Nam
- 2. Các phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế:
- 3. Mô hình của liên bang Thụy Sỹ:
- 3.1. Vấn đề thẩm quyền:
- 3.2. Vấn đề chọn luật áp dụng:
- 4. Mô hình của Vương quốc Bỉ
- 4.1. Giải quyết xung đột cơ quan tài phán:
- 4.2. Giải quyết xung đột pháp luật:
- 5. Các nguyên tắc cơ bản của tư pháp quốc tế
1. Khái niệm tư pháp quốc tế theo pháp luật Việt Nam
Tư pháp quốc tế là ngành luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, tức là trong quan hệ đó có ít nhất một bên tham gia là cơ quan, cá nhân, tổ chức là người nước ngoài, cá nhân người Việt nam định cư tại nước ngoài hoặc các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là cá nhân, tổ chức người Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, chấm dứt, thay đổi quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài; phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó tại nước ngoài.
Các yếu tố nước ngoài của một quan hệ:
- Chủ thể: Cá nhân nước ngoài, pháp nhân nước ngoài người Việt Nam định cư tại nước ngoài
- Khách thể của quan hệ đó ở nước ngoài
- Sự kiện pháp lý là căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt các quan hệ xảy ra ở nước ngoài
Ví dụ:
Hai công dân Việt Nam kết hôn tại nước Mỹ => phát sinh quan hệ pháp lý do Tư pháp quốc tế điều chỉnh.
2. Các phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế:
Thứ nhất: Phương pháp thực chất: là phương pháp sử dụng các quy phạm thực chất để điều chỉnh quan hệ Tư pháp quốc tế
Quy phạm thực chất là quy phạm định sẵn các quyền, nghĩa vụ, biện pháp chế tài đối với các chủ thể tham gia quan hệ Tư pháp quốc tế, các cơ quan có thẩm quyền căn cứ ngay vào quy phạm để xác định được vấn đề mà họ đang quan tâm mà không cần phải thông qua một khâu trung gian nào.
Ưu điểm: điều chỉnh nhanh chóng, các vấn đề cần quan tâm được xác định ngay, các chủ thể của quan hệ và các cơ quan có thẩm quyền khi gây tranh chấp sẽ tiết kiệm được thời gian tìm hiểu pháp luật nước ngoài, vô cùng phức tạp.
Nhược điểm: số lượng ít, không đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh các quan hệ.
Thứ hai: Phương pháp xung đột: là phương pháp sử dụng quy phạm xung đột nhằm xác định hệ thống pháp luật nước nào sẽ được áp dụng trong việc điều chỉnh quan hệ Tư pháp quốc tế cụ thể.
Quy phạm xung đột: không quy định sẵn các quyền, nghĩa vụ các biện pháp chế tài đối với các chủ thể tham gia Tư pháp quốc tế mà nó chỉ có vai trò xác định hệ thống pháp luật nước nào sẽ được áp dụng.
Ưu điểm: xây dựng đơn giản dễ dàng vì dễ hài hòa được lợi ích của các quốc gia, có tính bao quát và toàn diện hơn.
Nhược điểm: không giải quyết cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên mà chỉ làm trung gian dẫn chiếu đến một hệ thống pháp luật của một nước khác để điều chỉnh quan hệ đó.
3. Mô hình của liên bang Thụy Sỹ:
Khác với Cộng hòa Pháp, Thụy Sỹ có hẳn 1 đạo luật riêng do Nghị viện Liên bang ban hành ngày 18/12/1987 về tư pháp quốc tế. Phạm vi điều chỉnh của luật này bao gồm:
- Thẩm quyền của cơ quan tư pháp hoặc hành chính Thụy Sỹ;
- Luật áp dụng;
- Điều kiện công nhận và thi hành phán quyết nước ngoài;
- Phá sản và thu hồi nợ;
- Trọng tài.
Trong đó 3 nội dung đầu tiên liên quan trực tiếp đến tư pháp quốc tế.
3.1. Vấn đề thẩm quyền:
- Nguyên tắc chung : trừ trường hợp luật này có quy định khác, về nguyên tắc cơ quan tư pháp hoặc hành chính nơi cư trú của bị đơn sẽ có thẩm quyền giải quyết vụ việc.
- Lựa chọn thẩm quyền: trong lĩnh vực quyền tài sản, các bản có thể thỏa thuận lựa chọn 1 tòa án để giải quyết tranh chấp phát sinh. Thỏa thuận này sẽ vô hiệu nếu nó tước đi một cách lạm dụng quyền của bên kia được chọn tòa án Thụy Sỹ. Tòa án được chọn sẽ không có quyền từ chối xét xử nếu: một bên cư trú có địa chỉ thường trú hoặc trụ sở kinh doanh tại bang mà người đó sinh sống hoặc theo quy định của luật này thì pháp luật của Thụy Sỹ sẽ được áp dụng đối với tranh chấp.
3.2. Vấn đề chọn luật áp dụng:
- Việc chỉ định luật nước ngoài theo quy định của luật này được hiểu bao gồm toàn bộ tổng thể các quy định có thể được áp dụng để giải quyết tình huống. Không được loại trừ việc áp dụng luật nước ngoài chỉ với lý do quy phạm pháp luật đó mang đặc điểm của luật công.
- Vấn đề dẫn chiếu: khi luật áp dụng dẫn chiếu đến luật Thụy Sỹ hoặc luật nước ngoài, thì việc dẫn chiếu đó chỉ được xem xét khi luật này có quy định. Trong lĩnh vực dân sự, việc dẫn chiếu của luật nước ngoài đến luật của Thụy Sỹ được chấp nhận.
- Bảo lưu trật tự công cộng : việc áp dụng luật nước ngoài sẽ bị loại trừ nếu nó dẫn đến hệ quả đi ngược trật tự công cộng của Thụy Sỹ. Ngoài ra, các quy phạm mang tính bắt buộc trong luật Thụy Sỹ sẽ được áp dụng vì những mục đích đặc biệt trong mọi trường hợp kể cả khi luật này có dẫn chiếu đến một hệ thống luật khác.
- Nơi cư trú của cá nhân: là nơi mà cá nhân đó có ý định định cư lâu dài tại một quốc gia; nơi thường trú của cá nhân đó tại một quốc gia trong một thời gian xác định; nơi đóng trụ sở kinh doanh. Một người không thể có nhiều nơi cư trú cùng một lúc. Nếu không xác định được nơi cư trú thì nơi thường trú cũng được coi là nơi cư trú. Đối với pháp nhân, nơi cư trú là trụ sở của pháp nhân đó.
- Quốc tịch: quốc tịch của cá nhân được xác định theo luật của nước mà cá nhân đó có mối quan hệ gắn bó. Trong trường hợp cá nhân có nhiều quốc tịch trong đó có quốc tịch Thụy Sỹ thì chỉ cần dựa vào quốc tịch Thụy Sỹ để xác định luật áp dụng. Nếu cá nhân có nhiều quốc tịch (mà không có quốc tịch Thụy Sỹ) thì căn cứ vào quốc tịch của nước mà cá nhân đó có quan hệ gắn bó nhất để xác định luật áp dụng, trừ trường hợp luật nước đó quy định khác. Trong trường hợp công nhận một phán quyết của cơ quan tài phán nước ngoài tại Thụy Sỹ phục thuộc vào quốc tịch của một người, thì chỉ cần dựa vào một trong số quốc tịch mà người đó đang có để xác định là đủ.
- Người không quốc tịch và người tị nạn: một người bị coi là không quốc tịch nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại Công ước New york ngày 28/9/1954 về tình trạng của người không quốc tịch hoặc người mà mối liên hệ giữa họ với quốc gia bị cắt đứt. Người tị nạn là người thuộc trường hợp quy định tại Luật ngày 5/10/1979 về người tị nạn. Đối với người không quốc tịch và người tị nạn thì nơi cư trú thay thế tiêu chí quốc tịch.
- Công nhận và thi hành phán quyết nước ngoài:
+ Điều kiện công nhận: (i) thẩm quyền của tòa án hoặc cơ quan hành chính nước ngoài đã ra quyết định được thừa nhận; (ii) phán quyết đó không còn khả năng bị kháng cáo hoặc đã có hiệu lực chung thẩm; (iii) không thuộc trường hợp từ chối công nhận quy định tại Điều 27 của luật.
+ Các trường hợp thừa nhận thẩm quyền của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài: (i) nếu thẩm quyền đó phát sinh theo quy định của luật này hoặc nếu luật không có quy định thì bị đơn phải đang cư trú tại nước nơi quyết định được ban hành; trong lĩnh vực quyền tài sản, các bên có quyền thỏa thuận chọn cơ quan có thẩm quyền ra phán quyết; trong lĩnh vực quyền tài sản, bị đơn đã thực hiện nghĩa vụ mà không có bảo lưu.
+ Trường hợp từ chối công nhận: về nguyên tắc đó là trường hợp phán quyết đó trái với các nguyên tắc cơ bản của trật tự công cộng Thụy Sỹ.
- Cá nhân:
- Trong trường hợp luật này không có quy định khác, thì cơ quan có thẩm quyền của Thụy Sỹ nơi cá nhân đó cư trú có thẩm quyền giải quyết các việc liên quan đến quyền nhân thân. Năng lực pháp luật dân sự được xác định theo luật Thụy Sỹ. Năng lực hành vi dân sự được xác định theo luật nơi cư trú.
- Hôn nhân:
+ Các cơ quan có thẩm quyền của Thụy Sỹ có thẩm quyền đăng ký kết hôn nếu một trong các bên cư trú tại Thụy Sỹ hoặc có quốc tịch Thụy Sỹ. Người nước ngoài không cư trú tại Thụy Sỹ cũng có quyền đăng ký kết hôn tại Thụy Sỹ nếu việc kết hôn đó được thừa nhận ở quốc gia nới người đó cư trú hoặc mang quốc tịch. Không được từ chối đăng ký kết hôn chỉ với lý do việc ly hôn được tuyên hoặc công nhận tại Thụy Sỹ nhưng không được công nhận ở nước ngoài.
+ Việc hủy hôn nhân: Tòa án Thụy Sỹ nơi cư trú của một bên hoặc nơi đăng ký kết hôn hoặc nơi sinh của một bên có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy hôn nhân.
+ Chế độ tài sản vợ chồng: các bên được thỏa thuận luật áp dụng để giải quyết chế độ tài sản vợ chồng.
+ Ly hôn và ly thân: tòa án Thụy Sỹ nơi cư trú của bị đơn hoặc tòa án Thụy Sỹ nơi nguyên đơn đã cư trú ít nhất 1 năm ở Thụy Sỹ có quyền giải quyết ly hôn và ly thân. Luật áp dụng trong trường hợp này là luật Thụy Sỹ. Tuy nhiên, nếu 2 vợ chồng đều có quốc tịch chung nước ngoài và 1 bên cư trú tại Thụy Sỹ thì luật của nước mà họ mang quốc tịch được áp dụng.
+ Xác định huyết thống: Tòa án Thụy Sỹ nơi thường trú của trẻ em hoặc nơi cư trú của một trongt hai bên cha mẹ có thẩm quyền giải quyết khiếu kiện liên quan đến xác định huyết thống của trẻ em. Luật áp dụng trong trường hợp này là luật nơi thường trú của trẻ em.
+ Thừa nhận con: luật áp dụng là luật của nước nơi đứa trẻ thường trú, nơi đứa trẻ mang quốc tịch, nơi cư trú của cha mẹ.
- Nuôi con nuôi: Điều kiện nhận nuôi con nuôi tại Thụy Sỹ được xác định theo luật Thụy Sỹ.
- Thừa kế: Việc giải quyết thừa kế dựa theo 2 trường hợp : (i) nếu người chết có nơi cư trú cuối cùng tại Thụy Sỹ thì căn cứ theo luật Thụy Sỹ. Người nước ngoài có thể để lại di chúc chọn luật mà người đó mang quốc tịch để giải quyết; (ii) nếu người chết có nơi cư trú cuối cùng tại nước ngoài thì căn cứ theo luật của nước nơi người đó cư trú.
- Động sản, bất động sản:
+ Bất động sản: Tòa án nơi có bất động sản tại Thụy Sỹ có thẩm quyền chuyên biệt để giải quyết tranh chấp về bất động sản;
+ Động sản: Tòa án Thụy Sỹ nơi cư trú hoặc nơi thường trú của bị đơn có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về bất động sản. Mặt khác, tòa án Thụy Sỹ nơi có tài sản cũng có thẩm quyền giải quyết.
- Sở hữu trí tuệ: Quyền sở hữu trí tuệ được điều chỉnh bởi luật của nước nơi có yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu đó; các bên cũng có quyền lựa chọn luật của một nước bất kỳ để giải quyết.
- Hợp đồng :
+ Luật áp dụng trong lĩnh vực hợp đồng là luật do các bên thỏa thuận;
+ Nếu không có thỏa thuận: thì áp dụng luật của nước nơi hợp đồng có quan hệ gắn bó nhất.
4. Mô hình của Vương quốc Bỉ
Giống như Thụy Sỹ, Bỉ có hẳn một Bộ luật về tư pháp quốc tế (ban hành ngày 1/10/2004). Sau đây là những nội dung chính của Bộ luật.
4.1. Giải quyết xung đột cơ quan tài phán:
- Tòa án Bỉ có thẩm quyền nếu bị đơn cư trú hoặc thường trú tại Bỉ vào thời điểm vụ kiện được thụ lý (Điều 5 khoản 2); đối với pháp nhân thì nơi cư trú được hiểu là nơi đóng trụ sở chính.
- Trong trường hợp có nhiều bị đơn, tòa án Bỉ có thẩm quyền nếu một trong số họ cư trú hoặc thường trú tại Bỉ, trừ trường hợp vụ kiện chỉ nhằm vào bị đơn cư trú ở nước ngoài;
- Đối với chi nhánh của pháp nhân: tòa án Bỉ có thẩm quyền giải quyết các yêu cầu liên quan đến khai thác chi nhánh của pháp nhân không có trụ sở chính tại Bỉ nêu như chi nhánh này hiện diện tại Bỉ vào thời điểm vụ việc được thụ lý;
- Thỏa thuận chọn tòa án: các bên được quyền thỏa thuận chọn tòa án Bỉ để giải quyết vụ việc và trong trường hợp này thẩm quyền của tòa án Bỉ là duy nhâts (Điều 6). Tuy nhiên Tòa án Bỉ có thể từ chối thụ lý với lý do vụ việc không có mối liên hệ nào với nước Bỉ (forum non conveniens);
- Biện pháp khẩn cấp tạm thời: Tòa án Bỉ có thẩm quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay cả khi Tòa án không có thẩm quyền giải quyết nội dung vụ việc.
4.2. Giải quyết xung đột pháp luật:
- Về nhân thân và năng lực pháp luật dân sự xác định theo luật mà cá nhân có quốc tịch;
- Về xác định huyết thống: việc nhận con có thể được giải quyết ở tòa án Bỉ nếu người nhận có nơi thường trú ở Bỉ vào thời điểm nộp đơn hoặc đứa trẻ được sinh ra ở Bỉ hoặc đứa trẻ có nơi thường trú ở Bỉ vào thời điểm vụ việc được giải quyết;
- Kết hôn và ly hôn: điều kiện kết hôn về mặt nội dung được xác định theo luật quốc tịch của mỗi bên, điều kiện về hình thức được xác định theo luật của nước nơi tiến hành hôn lễ. Về ly hôn: các bên được quyền chọn luật của nước mà hai bên cùng có quốc tịch hoặc luật của Bỉ để giải quyêt.
- Chế độ tài sản vợ chồng: các bên được thỏa thuận chọn luật áp dụng để giải quyết tranh chấp tài sản vợ chồng. Nếu không có thỏa thuận thì theo thứ tự sau: (i) luật của nước mà một trong hai bên chọn làm nơi cư trú sau khi kết hôn; (ii) luật của nước mà một trong hai bên có quốc tịch vào thời điểm kết hôn; (iii) luật của nước nơi tiến hành hôn lễ.
- Về thừa kế: xác định theo luật của nước nơi cư trú cuối cùng của người chết.
- Về quyền tài sản: đối với vật quyền được xác định theo luật của nước nơi có tài sản (lex rei sitae). Đối với tài sản đang trên đường vận chuyển được xác định theo luật của nước nơi tài sản sẽ được chuyển đến; riêng đối với máy bay, tàu thủy được xác định theo luật của nước nơi tài sản được đăng ký.
- Về nghĩa vụ theo hợp đồng: áp dụng theo Công ước Rome về luật áp dụng đối với hợp đồng.
- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: theo luật của nước nơi xảy ra thiệt hại.
- Về sở hữu trí tuệ: việc xác định chủ thể gốc của quyền SHTT căn cứ vào luật của nước nơi quyền SHTT được khai thác có mối quan hệ gắn bó nhất (Điều 93). Đôi với các tranh chấp khác căn cứ theo luật của nước nơi có yêu cầu bảo hộ quyền SHTT.
5. Các nguyên tắc cơ bản của tư pháp quốc tế
Các nguyên tắc cơ bản trong tư pháp quốc tế gồm: Nguyên tắc bình đẳng về chế độ sở hữu; Nguyên không phân biệt đối xử giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài và công dân các nước với nhau tại Việt Nam; Nguyên tắc có đi có lại; Nguyên tắc tôn trọng quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (miễn trừ quốc gia); Nguyên tắc tôn trong sự thoả thuận của các bên.
Nguyên tắc bình đẳng về chế độ sở hữu xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế là sự bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia. Nội dung cơ bản của nguyên tắc thể hiện ở việc nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt đối xử giữa các chế độ sở hữu của các quốc gia trên thế giới. Các chế độ sở hữu này đều được đối xử bình đẳng về pháp lý, không phân biệt thể chế chính trị, kinh tế, xã hội mà các quốc gia đang hướng tới.
Nguyên tắc miễn trừ quốc gia là quyền của quốc gia sẽ không bị xét xử bởi bất kỳ một cơ quan tài phán nào dù là cơ quan tài phán quốc tế hay cơ quan tài phán của quốc gia khác trong quan hệ tư pháp quốc tế nếu chính quốc gia đó không đồng ý. Tương tự, các tài sản của quốc gia sẽ không bị áp dụng các biện pháp đảm bảo thi hành án.
Nguyên tắc có đi có lại là một quốc gia sẽ dành chế độ pháp lý nhất định cho thể nhân hoặc pháp nhân nước ngoài trong phạm vi chế độ pháp lý mà nước đó dành cho thể nhân hoặc pháp nhân nước mình. Việc áp dụng nguyên tắc này nhằm mục đích bảo hộ một cách tối đa quyền và lợi ích chính đáng của công dân, pháp nhân nước mình tại nước ngoài trong quan hệ tư pháp quốc tế. Đây được coi là nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế.
không phân biệt đối xử giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài và công dân các nước với nhau tại Việt Nam có nghĩa là Nhà nước Việt Nam cho phép công dân nước ngoài khi ở Việt Nam được hướng những quyền và nghĩa vụ như công dân Việt Nam (trừ một số quyền nhất định).
Nguyên tắc tôn trong sự thoả thuận của các bên có nghĩa là về bản chất, các quan hệ mà tư pháp quốc tế điều chỉnh vẫn là các quan hệ dân sự nên việc tôn trong sự thoả thuận của các bên là nội dung được thừa nhận. Tuy nhiên, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các bên, giới hạn thực hiện nguyên tắc này cũng được đặt ra ở một vài lĩnh vực mà các bên tham gia được lựa chọn pháp luật áp dụng.